Thông tin về Cụ Đặng Thế Công

Standard

XIN KÍNH BÁO

Rất tình cờ khi được biết trên Lạng Giang có 1 ngôi đền, thờ hai Cụ là anh em ruột là Cụ Đặng Thế Công và Cụ Đặng Thế Lộc. Thật trùng hợp khi tên hai Cụ lại trùng với tên hai anh em của Cụ Tổ họ Đặng Thôn Xuân La gia phả ghi chép cụ thể ở địa chỉ  https://dangducthinh.wordpress.com/2011/08/25/gia-ph%E1%BA%A3-h%E1%BB%8D-d%E1%BA%B7ng-thon-xuan-la/ .

Không biết có phải đây là Cụ Đặng Thế Công là Thủy Tổ của con cháu họ đặng thôn Xuân La, thời gian tới chúng tôi sẽ lên đền thờ CỤ tại Lạng Giang để tìm hiểu cặn kẽ.

Bài viết liên quan

Vân Hồng

Lạng Giang vốn là mảnh đất có vị trí trọng yếu về chiến lược quân sự và kinh tế. Đặc biệt, Lạng Giang là huyện có quốc lộ 1A (xưa là đường Thiên lý) chạy qua đoạn đường dài nhất so với các địa phương trong tỉnh, nối Thăng Long – Đông Đô (Hà Nội ngày nay) với Lạng Sơn, tỉnh biên giới phía bắc của Tổ quốc. Trải qua quá trình dựng nước và giữ nước, trên mảnh đất Lạng Giang còn lưu dấu nhiều di tích lịch sử văn hoá có giá trị, để hôm nay chúng ta có dịp tìm hiểu quá khứ hào hùng của cha ông thuở trước.

Nơi đây còn in đậm dấu tích của các thời kỳ Bắc thuộc, thời Lý, Trần. Miền đất Lạng Giang, cùng với Xương Giang, Cần Trạm xứng đáng với vai trò “phên dậu” phía bắc của kinh thành Thăng Long. Theo thống kê của Bảo tàng Bắc Giang thì Lạng Giang có tới gần 200 di tích lịch sử văn hoá. Đầu tiên phải kể tới di tích danh nhân Phạm Đình Liêu, thuộc thôn Chùa xã Xuân Hương. Phạm Đình Liêu quê gốc ở làng Nguyên Xá, Lam Sơn, Thiệu Thiên, Thanh Hoá. Ông đi theo Lê Lợi trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh xâm lược. Năm 1424 Phạm Đình Liêu cùng các tướng lĩnh khác đã tiêu diệt giặc Minh ở thành Nghệ An, sau đó tiến quân ra Bắc vây hãm Đông Đô – nơi tướng giặc Vương Thông cố thủ và tiếp tục được Lê Lợi cử lên phía bắc cùng các tướng Lê Sát, Trần Nguyên Hãn, Lê Lựu… chỉ huy quân chặn đánh viện binh của quân Minh. Ông đã từng tham gia đánh và hạ được thành Xương Giang, phá tan đoàn quân viện binh của giặc Minh trong chiến dịch Chi Lăng – Xương Giang 1427. Năm 1428 cuộc kháng chiến chống Minh kết thúc thắng lợi, ông được phong Ngân Thanh vinh lộc đại phu, Tả xa kỵ đại tướng quân, tước Khang vũ bá. Do có công lao trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Minh, Phạm Đình Liêu được dự vào hàng Khai quốc công thần, được mang Quốc tính, đổi từ họ Phạm sang họ Lê thành Lê Văn Liêu.

Phạm Đình Liêu có 2 người con: con trai Phạm Đức Hoá lấy công chúa Lê Thị Ngọc Khanh, con vua Lê Thánh Tông, được ban tước Hoa Phong hầu; con gái Phạm Thị Minh Phi được tuyển vào cung làm vợ vua Lê Thánh Tông. Đền thờ Phạm Đình Liêu hiện còn một câu đối như sau:

Cử nghĩa tự Lam Sơn chi địa

Quốc dực ân hồng ư Xương Giang

Nghĩa là: Dấy nghĩa binh từ đất Lam Sơn/ Giúp nước ân sâu ở miền  Xương Giang.

Sau khi tham quan di tích tướng quân Phạm Đình Liêu, du khách không thể bỏ qua một di tích thành Cần Trạm thuộc xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang, mỗi di tích gắn với chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang năm 1427 của quân và dân Đại Việt chống lại và đập tan gần 10 vạn quân xâm lược Minh trong gần một tháng tại địa bàn Lạng Sơn và Bắc Giang ngày nay. Trận Cần Trạm diễn ra vào ngày 15 tháng 10 năm 142, khiến viên tướng giặc Bảo Định Bá Lương Minh phải tự vẫn.

Chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang chính là chiến thắng quyết định cho nền độc lập của dân tộc ta ở thế kỷ 15. Trong Bình Ngô đại cáo bất hủ, lời của Nguyễn Trãi cách nay gần 600 năm vẫn như còn vang vọng:

Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường

Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước

Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau để chạy thoát thân.

Thế cũng đủ biết mảnh đất này có ý nghĩa nhường nào. Mảnh đất thật kỳ lạ, là tấm phên dậu Kinh kỳ ở phương Bắc, cũng có nghĩa là tấm phên dậu của quốc gia.

Ngay bên quốc lộ 1A, đoạn km 70 Hà Nội – Lạng Sơn, cách đường khoảng 50m về phía tay trái là ngôi đền thờ Đặng Thế Công đứng ẩn mình khiêm nhưòng trên một ngọn đồi nhỏ, mà dân gian quen gọi là đồi Nỉ, thuộc thôn Phúc Lãm, xã Tân Thịnh, huyện Lạng Giang. Trong đền thờ hiện còn lưu giữ nhiều tài liệu chữ Hán, chữ Nôm, nhiều hiện vật quý có ý nghĩa nghiên cứu khoa học và giáo dục truyền thống. Đó là các bức đại tự, hoành phi, câu đối, văn bia, sắc phong, hương án, đồ tế khí, thờ cúng là hiện vật gốc thời Lê, thời Nguyễn rất có giá trị lịch sử văn hoá và kiến trúc nghệ thuật. Những tài liệu hiện vật này đã góp phần phục vụ cho việc nghiên cứu tham khảo và đánh giá về công trạng hai anh em Đặng Thế Công, Đặng Thế Lộc. Đây là những võ quan tài giỏi của thời Lê – Trịnh đem lại vinh hạnh cho dòng họ. Nhờ đó, con cháu sau này đã nêu gương và nhiều người được trọng dụng trong các triều vua Lê. Đời vua Đức Long năm thứ 2 (1630) Đặng Thế Lộc được vua ban sắc có nội dung như sau: Sắc phong chức Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân đô đốc phủ, tước Nhai lộc hầu cho Đặng Văn Lộc, vì lệnh nhà vua sai dẹp giặc nhà Mạc, đã phá tan quân địch bắt được cờ giặc, thu được voi ngựa, khí giới về cho nhà nước, có rất nhiều công lao được thăng Hữu Đô đốc, vinh phong Dương vũ uy dũng công thần, Bắc quân Đô đốc phủ, Hữu đô đốc, tước Nhai quận công ( tước vị cao nhất mà triều đình ban phong cho bề tôi có công với nước).

Từ thị trấn Vôi rẽ trái, đi khoảng 15 km là tới xóm Giữa, địa điểm có cây Dã hương Tiên Lục. Theo một nguồn tư liệu cổ mà địa phương còn lưu thì cây Dã hương Tiên Lục đã được phong là “Cây dã đại thần” từ thế kỷ 18 ”. Điều đó có nghĩa là ở thời vua Lê Cảnh Hưng (1740 – 1784) cây Dã hương này đã được nhà nước phong kiến xếp hạng để bảo vệ. Nó nằm trong khu vực Đình Cây Dã nên được bảo vệ trong tình cảm của toàn dân Tiên Lục. Đầu thế kỷ 20, cây cũng được ghi nhận trong tập từ điển La rout của Pháp vì là cây thuộc loài long não độc đáo nhất của Đông Dương. Năm 1990, cây đại thụ này đã được Bộ Văn hoá – Thông tin xếp hạng bảo vệ cùng khu di tích đình, đền, chùa Tiên Lục. Năm 2005, Viện Bảo tàng dân tộc học đề nghị mỗi tỉnh chọn một cây đưa về Bảo tàng trồng để có đặc trưng sinh thái của mỗi vùng, miền và tỉnh Bắc Giang đã chọn một cây Dã hương là cây con cháu của cây Dã hương cổ thụ đem về trồng ở đó. Người dân Tiên Lục rất tự hào về điều này.

Nằm ngay cạnh cây Dã hương là đình Cây Dã (tức đình Viễn Sơn) là ngôi đình lớn, gồm 2 toà đại đình và hậu cung. Đình có quy mô lớn, được tạo dựng năm 1750, có nhiều bức chạm khắc đẹp, mang phong cách dân gian, thể hiện những tình cảm trong sáng vô tư của người nông dân xưa, như: đấu vật, cô gái cưỡi rồng, lợn gà ủn ỉn… Qua thời gian dãi dầu mưa nắng, nhiều hạng mục của công trình bị xuống cấp nghiêm trọng nên vừa qua đình Cây Dã được nhà nước đầu tư  trùng tu tôn tạo khang trang. Thật tiếc, qua đợt trùng tu này, một mảng chạm trên cốn nách đã bị thất lạc không rõ do sự vô tình hay hữu ý.

Cũng nằm trong quần thể di tích xã Tiên Lục là chùa Tiên Phúc. Chùa được xây dựng trên khu đất bằng phẳng, rộng rãi rất phù hợp cho việc tổ chức hội lệ. Kiến trúc chùa được thiết kế theo lối nội công ngoại quốc. Đây là một trung tâm sinh hoạt văn hoá tôn giáo, tín ngưỡng của Tiên Lục. Theo lời văn được khắc trên chuông chùa thì nơi đây: “Nguyên là nơi có cổ tích, danh lam chưa từng có trong vùng…”. Cũng căn cứ vào nội dung ghi trên chuông ta biết được: từ năm 1707 chùa Tiên Phúc đã có quy mô to lớn và nổi tiếng cả một vùng, đồng thời năm 1707 di tích đã có trùng tu lớn như tu sửa hành lang, đúc chuông… Với sự đóng góp tiền của, công sức của nhiều vương công, quý tử như Lê Phúc Duệ, Ngạch quận công. Mấy chục năm sau dân làng Tiên Lục lại tiếp tục sửa chữa gác chuông, đó cũng là lần trùng tu lớn.

Hệ thống tượng Phật ở chùa Tiên Phúc phong phú về số lượng và giá trị về chất lượng. Có tới 80 pho tượng chất liệu bằng gỗ hoặc bằng đất sét trộn, đều được sơn son thếp vàng rực rỡ mang phong cách thời Lê, thời Nguyễn. Ngoài hệ thống tượng Phật ở chùa Tiên Phúc còn cả một sưu tập đồ thờ chất liệu bằng đồng, bằng gỗ, bằng sứ, bằng sành…vô cùng quý hiếm như chuông, hạc, bình hương, hương án… cùng những tư liệu chữ Hán, chữ Nôm trên hoành phi, bia đá… là cơ sở cho việc nghiên cứu lịch sử, văn hoá, kiến trúc nghệ thuật và tôn giáo tín ngưỡng ở miền đất này.

Với những giá trị to lớn ấy, chùa đã được Bộ Văn hoá- Thông tin xếp hạng là Di tích kiến trúc nghệ thuật từ ngày 21 tháng 1năm 1989.

Đi tiếp con đường đến Tiên Lục, vào khoảng 2 cây số nữa chúng ta đến xã Đào Mỹ, nơi có ngôi đình Phù Lão lừng danh xứ Bắc. Góc trái sân đình có một tấm bia đá tứ diện, dáng long đình, đường nét chạm khắc tinh tế, qua hơn 300 năm mưa nắng nhuần gội nhưng hàng nghìn con chữ vẫn đủ đầy như xưa. Văn bia ghi việc bà Đào Thị Hiên là một quan lại cao cấp đương thời đã bỏ tiền của nhà rất lớn để hưng công giúp dân làng làm đình. Tấm bia là nguồn tư liệu quý giúp cho việc tìm hiểu lịch sử văn hoá vùng Đào Quán xưa, nó cũng là tư liệu chân xác nhất để xác định tuổi của ngôi đình được xây dựng từ những năm cuối thế kỷ 17 (niên hiệu Chính Hoà thứ 15 – 1684). Như vậy, đến nay ngôi đình đã hơn 300 năm tồn tại cùng tuế nguyệt và chứng kiến biết bao sự đổi thay của những trẻ già làng Phù Lão.

Đình Phù Lão giữ vẻ đẹp khiêm nhường với sự hoà hợp cùng đường đất bờ tre, cây đa, bến nước, ao làng. Trông bề ngoài đình Phù Lão cũng giống như hầu hết những ngôi đình ở các làng quê khác, nhưng đình có sự khác biệt chính bởi kiến trúc gỗ với những mảng điêu khắc cực kỳ độc đáo. Đề tài chạm khắc ở đây cũng hết sức phong phú. Riêng các con giống cũng đã có đủ loại: kỳ đà, thằn lằn, rắn, chồn, cáo, ngựa, chuột…Riêng về con rồng đã có nhiều loại rồng: rồng đàn, rồng ổ, rồng bay, rồng múa, rồng chầu, rồng cắn đuôi nhau, con nhỏ con to cuồn cuộn uốn khúc. Rồi bao nhiêu con giống khác nữa đủ loại kích cỡ to nhỏ, ngộ nghĩnh luồn lách trên đầu, trên râu, dưới bụng, dưới chân rồng.

Những hình hoa lá, thú vật thiên nhiên làm thành một môi trường hoạt động của con người hết sức sinh động. Bố trí hình khối người ở đây cũng thật tự do bay bổng, có người cưỡi rồng, người chui hẳn vào miệng rồng. Có người bé tí như ngón tay út nhưng có người lại to hẳn lên vài chục phân. Nhiều hình người đơn lẻ một mình nhưng cũng nhiều cảnh sinh hoạt đông vui như hội hè, săn bắn, đấu vật, tự tình… Tất cả đã phản ánh một đời sống văn hoá tinh thần phong phú, với những nét hồn nhiên yêu đời của những người dân xưa. Hình tượng con rồng vốn được xem là biểu tượng của vua quan quyền quý, nhưng bằng những mảng chạm khắc phóng túng, các nghệ nhân xưa dường như muốn kéo gần khoảng cách giữa lối sống cung đình với cuộc sống thôn quê. Mặt khác nó cũng phần nào phản ánh thời kỳ hưng thịnh của chế độ phong kiến Việt Nam thế kỷ 17. Chính những mảng chạm khắc phong phú đa dạng làm nên giá trị độc đáo hiếm có của đình Phù Lão, như lời ngợi ca trong bài minh trên tấm bia ở sân đình:

Kinh Bắc Lạng Giang

Bảo Lộc danh hương

Sơn thuỷ kỳ tú

Phong thổ dị thường…

Còn nhiều di tích nữa mà khó có thể kể ra hết được. Chỉ biết rằng, cùng với sự đổi thay kỳ diệu hôm nay, Lạng Giang vẫn giữ được nhiều nét đẹp truyền thống như một sự khẳng định sức sống bền vững của vùng quê này. Có phải sự dồn tụ khí thiêng sông núi nhiều đời đã hun đúc nên một Lạng Giang có sức mạnh lớn lao, một Lạng Giang đã anh hùng trong chiến đấu, lại dũng cảm trong lao động sản xuất. Mảnh đất chiến lược thời giữ nước lại là mảnh đất hết sức thơ mộng trữ tình trong hoà bình, là huyết mạch dựng nước thời mở cửa, hội nhập của quê hương. Ngày nay, mỗi người dân Lạng Giang đều muốn ca lên bài ca về Lạng Giang anh hùng… Và sức mạnh nơi đây đã được bắt mạch từ nguồn chảy hào hùng nghìn năm thuở trước./.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s