SỰ TÍCH BÀ CHÚA HỌ ĐẶNG NGUYỄN THỊ HÚY TOẢN THỤY TỪ AN

Standard

 Sù TÝCH

Xin trân trọng giới thiệu bài sưu tầm nghiên cứu của Cụ Đặng Đình Hiếu, quán Xuân La-Phượng Dực-Phú Xuyên- TP Hà Nội, là cháu thứ 12 của cụ tổ Tố Quận Công Đặng Thế Công về

“SỰ TÍCH BÀ CHÚA HỌ ĐẶNG NGUYỄN THỊ HÚY TOẢN THỤY TỪ AN”

TIỂU SỬ CỤ CHÁNH PHU NHÂN

NGUYỄN THỊ TOẢN THỤY TỪ AN

Theo Đặng Gia phả ký tục biên của cụ Thượng Thư Liêm Quận Công Đặng Thế Khoa chép năm Giáp Ngọ (1654) đời Vua Thịnh Đức thứ hai biên:

Chánh phu nhân Nguyễn Thị Toản thụy Từ An. Bà là ái nữ của cụ sinh đồ họ Nguyễn quê làng Bối Khê, huyện Phú Xuyên. Bà là phu nhân của Nghiêm Quận Công Đặng Điện (Cụ Điện là con trai của cụ Lương Quận Công Đặng Chí, sinh quán tại xã Mạc Xá, Huyện Chương Đức, phủ Ứng Thiên nay là thông Lương Xá, xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.

Một mối tình thiên định, ông bà đã sinh ra một quý tử anh hùng kiệt xuất dưới thời Lê Trung Hưng là Cụ Đặng Huấn.

Làng Bối Khê quê Bà là một vùng đất địa linh nhân kiệt, thuở ấy có nhiều di tích lịch sử văn hóa lâu đời. Có nhiều người có công với dân, với nước được ghi danh sử sách. Họ Nguyễn của Bà là một dòng họ có truyền thống khoa bảng nhiều đời đồng thời cũng là một dòng họ giàu sang nhất vùng. Tuy nhiên đến đời thân phụ của Bà thì đã xa sút rất nhiều.

Phu nhân Húy Toản vốn sinh ra trong một gia đình nho học. Tuy nhà không được giàu có nhưng Bà vẫn được phụ thân cho ăn học nên Bà am tường rất nhiều sử sách và sự tích cổ kim.

Tương truyền rằng: Bà có dáng người tầm thước, da trắng, tóc dài, nết na, hiền dịu, hiếu thuận với cha mẹ, giàu lòng bác ái. Không những thế Bà còn là người giỏi dang biết nghề chăm tằm, xe tơ dệt lụa.

Khi đến tuổi trăng tròn (tức 16 tuổi) phụ thân cho tác hợp duyên bà với ông Đặng Điện. Ông Đặng Điện cũng là người ham đọc sách, biết tiếp nối và tu sửa công đức của tổ tiên. Ông là người ngay thẳng, nghiêm cẩn, ghét kẻ gian tà, hay giúp đỡ người gặp khó khăn nên được mọi người kính trọng.

Nói về mối lương duyên giữa ông và bà Nguyễn Thị Toản thì trước tiên phải nói tới mối quan hệ giữa cụ sinh đồ họ Nguyễn và Cụ Đặng Chí vì mối lương duyên nay là do hai Cụ tác thành. Hai Cụ vốn là bạn học đồng môn, học hành đều thi đỗ nhưng không ra làm quan mà về quê mở trường dạy học. Trong lúc thư nhàn hay khi gió mát trăng thanh hai cụ thường lui tới giao du, trà tửu đàm đạo văn chương, luận nhân tình thế thái. Tình bạn chuyển thành tình thông gia lại càng trở lên thắm thiết vô cùng.

Từ khi bà Nguyễn Thị Toản về nhà chồng, một lòng hiếu thảo khéo léo trong việc cửi canh, giỏi giang trong việc tề gia nội trợ, phu xướng phụ tùy gia đình trong ấm ngoài êm được dân làng ngợi khen là dâu hiền, trai tài gái giỏi xứng đôi.

Vào năm Kỷ Mão (1519) đời vua Quan Thuận thứ tư, Bà mộng thấy Ngọc Hoàng Thượng Đế sai thiên thần đem tặng bà một tiên đồng khôi ngô tuấn tú. Bà mừng rỡ vội vàng liền đưa hai tay đỡ lấy. Sau giấc mộng ấy Bà đã mang thai. Khi đến kỳ mãn nguyệt khai hoa, trên nóc nhà xuất hiện một đám mây hồng che phủ, trong nhà tỏa ra hương thơm ngào ngạt. Trong thời khắc đó bà đã hạ sinh một hài nhi trông giống hệt như vị tiên đồng trong mộng, bà vui mừng khôn tả, rồi quyết định chọn ngày đặt tên hài nhi là “Đặng Húy Đê **” tự là “Đặng Huấn”. Thầm mong sau này sẽ là người có ích cho đất nước và làm rạng rỡ tổ tiên.

Khi Bà hạ sinh được Ngài Đặng Huấn gặp lúc đất nước đương hồi ly loạn, sưu cao thuế nặng, dân tình đói khổ lầm than, song thân lại lần lượt quy tiên, thời gian sau người con cả sớm đã qua đời. Bà nén đau thương cùng chồng quyết đem con thơ xuống quê ngoại làng Bối Khê, vẫn lấy nghề xe tơ dệt lụa làm kế mưu sinh.

Tuy nhiên, đương lúc làm ăn thuận lợi thì bọn cường hào ác bá trong làng đến gây khó khăn sách nhiễu nhiều điều, bà lại cùng chồng đem con thơ đến cây đa cổ thụ ở cuối làng Hạ thôn trú ngụ.

** Chú thích: Đê là sao Đê là cát linh tăng tài lộc nhất trong bảy ngôi sao trong chùm sao Thanh Long phùng Đông mùa xuân.

Thấy cây đa cổ thụ năm cành xum xuê tươi tốt, trồng trên gò đất rộng lại cao hình thế long phụng hổ chầu, đường đi xuôi ngược giao thông thuận lợi, ông bà bèn lập ba gian nhà nhỏ bên gốc cây đa để mở quán bán hàng tính kế lâu dài rồi tìm thầy nuôi con ăn học.

Vào một đêm trời bỗng nổi cơn giông bão, mây đen ùn ùn kéo tới, gió bão gào thét từng cơn, ngỡ như trời nghiêng đất lở. Đương lúc canh khuya quán vắng, cảnh tượng ấy ai ai cũng phải khiếp đảm kinh hồn, nhưng phu nhân vẫn bình tâm dắt con thơ lên giường nằm rồi bà hát ru cho con ngủ.

Sáng hôm sau, khi trời yên đất lặng bà ra nhìn thấy cây đa cổ thụ bị bão đánh đổ đêm qua bật tung cả rễ lên. Bà nhìn thấy dưới hố gốc cây đa dổ có rất nhiều vật lạ đen sì hình dáng như viên gạch, biết là của quý Bà cùng chồng khuân dọn vào trong một xó nhà, rồi phủ rơm rạ lên để tránh kẻ tà tâm nhòm ngó.

Ít ngày sau đó, có một chú khách tàu vào quán nghỉ chân uống nước, rồi lân la hỏi chuyện:

–         Dạ thưa ông, ông bà có thấy vật gì lạ ở dưới gốc đa đổ không ạ?.

–         Tại sao chú biết ở hố gốc đa đổ có vật lạ? (Phu nhân đáp).

Người khách tàu này giãi bày:

–         Dạ thưa Bà, Bà hỏi tôi không dám dấu, những vật lạ ấy là vàng ngọc của tổ tiên nhà tôi ký gửi ở dưới gốc đa này ạ!.

–         À ra thế, những vật lạ đó chúng tôi đa mang tất cả vào trong nhà rồi. (Phu nhân đáp).

Nói xong Bà dẫn người khách đó vào xem. Người tàu kiểm tra thấy số vàng ngọc vẫn còn nguyên thì mừng rỡ thưa:

–         Xin cảm ơn ông bà, số vàng ngọc khi đã phát lộ rất may được ông bà có lòng tốt cất giấu dùm cho không thì thất lạc hết. Dạ thưa ông bà, nay tôi có của ông bà có công tôi thành tâm xin biếu ông bà một nửa, xin ông bà vui lòng nhận cho.

Phu nhân giọng đầy kiên nghị nói:

–         Số vàng ngọc là do tổ tiên chú ký gửi lại đây không phải là của chúng tôi làm ra, chú bảo chúng tôi làm điều thất nhân bất nghĩa đó sao, chú hãy mang tất cả đi đi chúng tôi không lấy đâu.

Hai bên đưa đẩy nhiều lần, bà vẫn một mực không nhận. Người khách tàu biết bà là người ngay thẳng, cảm kích trước tấm lòng trong sáng của phu nhân, người khách này vội vàng quỳ xuống và lạy bà:

–         Xin đội ơn tấm lòng thanh liêm cao cả của ông bà.

Nói dứt lời thì người khách này cuống quýt thu dọn rồi lên đường. Trước khi người khách này lên đường bà còn cho hắn thêm một nắm cơm to phòng khi trên đường đi nhỡ bữa.

Bà luôn luôn nêu cao nhân nghĩa, liêm khiết thanh cao, giữ gìn trung hiếu tiết nghĩa làm đầu, nêu cao công đức của tổ tiên dạy con nối chí ghi nhớ đừng quên. Lấy những điều kể trên làm gia huấn để khuyên răn dạy bảo.

Ngài Đặng Huấn khi đã trưởng thành văn võ song toàn, đem tài đức ra phò Lê cứu nước. Ngài bày mưu tính kế, tế thế an bang chinh phạt bốn phương, tiễu trừ giặc nước, cứu vớt muôn dân thoát nhiều cơn binh hỏa, thu phục lại đất đai, lấy lại kinh thành xưa cho nhà Lê muôn năm bền vững. Được Vua chúa tin dùng, quyền chức đầu triều văn võ bá quan nể phục.

Trong công cuộc đánh giặc giữ nước, Ngài được Vua chúa ban phong nhiều chức tước rất cao quý như: Thái Uý Nghĩa Quốc Công, Hậu Trạch Công, Thượng Đẳng Đại Vương.

Thân phụ Ngài được phong Nghiêm Quận Công.

Thân mẫu được phong Chánh phu nhân. Khi mất vua ban tên thụy là Từ An.

Con dâu của Chánh phu nhân là Lê Thị Ngọc Huyên, là con gái quan Thuần Quận Công Lê Bá Đễ được gia phong Thái phu nhân Hậu Trạch Công.

Cháu nội của Chánh phu nhân là Đặng Thị Ngọc Giao, sánh duyên cùng với Chúa thành tổ Triết Vương Trịnh Tùng được tiến tôn là Thái Quốc Phi. Thái Quốc Thái Phi sinh ra Chúa Văn Tổ Nghị Vương Trịnh Tráng.

Chánh phu nhân Nguyễn Thị Toản đáng là bậc tử mẫu, tổ chúa họ Đặng thời Lê Trung Hưng. Bà là bậc anh hùng hạ sinh ra một bậc anh hùng kiệt xuất. Được tiến tôn là thủy tổ họ Đặng thời Lê Trung Hưng.

Chánh phu nhân đã nêu cao tấm gương nhân nghĩa sáng chói để cho con cháu muôn đời noi theo. Khi Chánh phu nhân quy tiên, phần mộ của cụ an tang tại xứ Chung Đồng, trước phủ thờ họ Đặng làng Bối Khê, huyện Phú Xuyên. Giỗ Chánh phu nhân vào ngày 13 tháng chạp.

Năm Đinh Hợi (1647) niên hiệu Phúc Thái thứ năm, Chúa Văn Tổ Nghị Vương Trịnh Tráng muốn báo công ơn của mẹ là Thái Quốc Thái Phi Đặng Thị Ngọc Giao cùng ơn dưỡng dục của ông bà ngoại là Hậu Trạch Công bèn mua đất ở xứ Chuông Đồng làng Bối Khê, huyện Phú Xuyên để lập phủ thờ họ Đặng và Chánh phu nhân Nguyễn Thị Toản.

Ban tiền mua 50 mẫu đất ruộng đầm ao, đất bãi các xứ trong thôn Ngọ, hai thửa năm mẫu xã Bối Khê giao cho các thôn bên ngoại cày cấy, lấy tiền mua sắm lễ vật vào việc cúng tế giỗ tết.

Hàng năm nhà Chúa ngự giá thân chinh đến đó để hành lễ và tông chi họ hành tộc thuộc cùng văn võ bá quan đến để bồi tế. Cái nghĩa báo ơn đức thật là tột cùng.

Công việc phủ thờ giao cho Phó tướng Doanh Quận Công Đặng Thế Tài cắt cử người trông nom thờ tự.

Trong thời kỳ chống giặc pháp xâm lược (1945), bọn giặc dã man đã ném bom tàn phá làng Bối Khê, phủ thờ Tổ Mẫu họ Đặng cùng nhiều di tích lịch sử và những di sản văn hóa ở đây bỗng chốc đã biến mất trong mịt mù đạn nổ bom rơi của giặc.

Khi hòa bình lập lại trên đất nước Việt Nam (1945) họ Đặng làng Bối Khê lại chung sức chung lòng tôn tạo được ba gian nhà thờ Tổ Mẫu to đẹp, vẫn trên nền đất của phủ thờ Tổ Mẫu xưa kia.

Bà con họ Đặng làng Bối Khê đã mua sắm được ngai thờ hoành phi câu đối và đầy đủ các đồ thờ tế khí rất uy nghi lộng lẫy.

Năm 2006 hội đồng gia tộc họ Đặng Việt Nam có các vị: Đặng Ngọc Thanh, Đặng Văn Phú, Đặng Trần Lưu đã về đây dâng hương chiêm bái tổ Mẫu Nguyễn Thị Toản, thụy Từ An người đã sinh thành ra cụ Thủy Tổ họ Đặng dưới thời Lê Trung Hưng là Tổ Đặng Huấn.

Hàng năm cứ đến dịp kỷ niệm ngày mất của cụ Tổ Đặng Huấn, bà con họ Đặng các nơi về lăng thờ của cụ Tổ (Lăng mộ cụ hợp tang với tổ phụ Nghiêm Quận Công Đặng Điện trên gò đất cao có địa danh kim quy thuộc cánh đồng làng Hạ Thôn Giẽ hạ) để cúng tế rất linh đình, đồng thời lại hành hương về nhà thờ họ Đặng thôn Bối Khê, kính cẩn dâng hương chiêm bái Tổ Mẫu của Ngài.

Những công việc trông nom nhà thờ họ, lăng thờ Tổ Mẫu, ngày giỗ Tổ Mẫu và công việc khác trong họ, họ Đặng làng Bối Khê vẫn giữ nguyên như lệ cũ.

Mùa xuân năm Quý Tị năm 2013.

 

HOẠT ĐỘNG CHI HỌ ĐẶNG CHÚC SƠN, CHƯƠNG MỸ, HÀ NỘI

Standard

Nguồn: http://hodangvietnam.com/Site/NewDetails/478

HOẠT ĐỘNG CHI HỌ ĐẶNG CHÚC SƠN, CHƯƠNG MỸ, HÀ NỘI

Đặng Tộc Chúc Sơn gia phả của cụ Đặng Đình Trường viết truyền lại. Cụ Đặng Đình Thà dịch ra chữ Quốc ngữ viết.
Hữu Đô đốc Tố quận công Đặng Thế Công sinh ra con con, cháu cháu thành chi họ Đặng ở Chúc Sơn, phủ Chương Đức, nay là thôn Chúc Sơn – Thị trấn Chúc Sơn – Huyện Chương Mỹ – TP Hà Nội.
Cao tổ Đặng Thế Công là hậu duệ đời thứ 9 của Tiến sĩ Dương Khê Hầu Trần Huy hiệu Đặng Hiên Tiên sinh. Là chắt của Thượng Đẳng Đại Vương Hậu Trạch Công Đặng Huấn. Là con thứ hai của Tiên Tổ Khảo họ Đặng Chi Bính Khâm Quận Công Đặng Thế Khanh. Có ông cha, chú bác, an hem là quan văn, tướng võ ở Lê Triều Trung Hưng. Thuộc dòng dõi danh giá có đức vọng, có tài trí, có khí tiết, có huận nghiệp đời đời hiển vinh, thanh danh thong suốt trước sau truyền dài dòng giống. Khang ninh thọ khảo, Phúc lộc lâu bền, giữ trọn chữ hiếu trung đời đời, tu đức, tu nghiệp hiển vinh danh sang lưu truyền sử sách. Dân gian ca ngợi thành câu ca nay vẫn còn truyền tụng:
“Bao giờ chợ Chúc hết người,
Sông Ninh hết nước, Đặng thời hết quan”
Chợ Chúc xưa của làng Chúc Sơn năm ngày mới họp một phiên. Nay chợ là của Thị trấn Chúc Sơn, ngày nào cũng họp từ sang sớm đến tận chiều tối, người bán, người mua ra vào tấp nập. Sông Ninh là tên cổ xưa của Sông Đáy ngày nay chảy qua địa giới Ninh Sơn, Chúc Sơn.
Cao tổ Đặng Thế Công sinh ngày 15 tháng 04 năm Ất Mão, hiệu Hoàng Định thứ 16 (1615) mất ngày 28 tháng giêng năm Canh Tuất hiệu Cảnh Trị thứ tám (1670) vua Lê Huyền Tông ban cho tên thụy là Trung Thuần vầ đất Triệu Trạch để lập Lăng ở Cao Điền xứ Nội Chúc Sơn. Phò qua các vua Lê Thần Tông, Lê Chân Tông, Lê Huyền Tông. Được phong là Tố quận công, Đô đốc Thiên sự, Đô đốc đồng chi hữu, Đô đốc tổng binh. Có bốn phu nhân, chính phu nhân là con gái thứ của Hoằng Tổ Vương Trịnh Tạc, Quận Chúa Trịnh Thị Ngọc Duyên, hiệu Diệu Ninh sinh ra Điền Quận Công Đặng Thế Thuyên ở Chúc Sơn. Các thứ phu nhân sinh ra các con lập ấp ở Bắc Giang, Phú Xuyên.
Điền quận công Đặng Thế Thuyên có năm phu nhân. Chính phu nhân là con gái Bỉnh Trung Công Quận Chúa Trịnh Thị Ngọc Bội, cùng các thứ phu nhân sinh được 02 con gái và 10 con trai:

1.Tự Lộc Hầu Đặng Thế Tự
2.Trấn Trụ Hầu Đặng Tiến Khiêm
3.Khương Thọ Hầu Đặng Tiến Nhiễm
4.Đông Chi Phủ Đặng Tiến Lưu
5.Tham Nghị Đặng Tiến Viên
6.Triệu Cơ Hầu Đặng Tiến Tá
7.Tạo Sĩ Đặng Tiến Giao
8.Tạo Sĩ Siêu Nhất Tước Đặng Đình Truyền
9.Tạo Sĩ Đặng Đình Đạt
10.Thuộc Viện Đặng Đình Toại

Cả 10 người con trai của Điền Quận Công trưởng thành đều được phong tước lộc đi trấn giữ lập nghiệp ở các trấn, các xứ. Trưởng Nam Đặng Tiến Tự cùng ba em ở lại Chúc Sơn sinh ra bốn chi phía, chi nhỏ cũng có vài chục gia đình.
Năm Canh Thìn hiệu Chính Hảo thứ 21 (1700) Tự Thọ Hầu Đặng Tiến Tự chọn đất phía Tây núi Sấu ở Chúc Sơn để làm từ đường thờ phụng tổ tiên ông bà cha mẹ. Trong từ đường có tấm bia đá lớn ghi danh tích thể lệ cũng tế ngày Giỗ ngày Tết. Từ đường đến nay đã đã trải qua trên 300 năm không còn nghuyên vẹn như xưa nữa.
Đất nước yên bình văn hóa tâm linh phục hưng. Đặng tộc Chúc Sơn vận động toàn chi tộc đoàn kết cùng nhau đồng tâm, đồng lực đóng góp công sức, trí tuệ, tiền của làm nhiều đợt, nhiều năm từ năm 1995 đến nay đã tạo dựng lại Từ đường bằng gỗ vững chắc. có đủ đồ thờ, đồ tế khí uy linh cổ kính. Bên ngoài trước sân có bình phong cuốc thư, 2 cột trụ lớn, 2 cổng pháo tám mái, 2 cột đèn uy nghi.
Hàng năm, ngày giỗ Cao tổ Đặng Thế Công 28 tháng giêng thành lệ truyền thống, tất cả già, trẻ, dâu rể, trai gái, nội ngoại của họ hào hứng nô nức về nhà thờ kính cẩn dâng lễ cũng tế Tổ Tiên. Trịnh trọng chúc thọ các cụ tuổi cao, mừng vui khen thưởng khuyến học, khuyến tài.
Sáng sớm ngày mùng một hàng tháng, không phân biệt già trẻ, toàn họ về nhà thờ cúng lễ Tổ ngày sóc đồng thời sinh hoạt nhắc nhở động viên nhau làm đúng theo 13 điều Tộc ước in thành văn trao ở nhà thờ.
Mấy lời lược trích ở phả tộc viết về gốc nguồn danh tích của Tổ Tiên và những việc làm hiện thực của chi họ Đặng Chúc Sơn, có khiếm khuyết mong thông cảm.

Hậu duệ đời thứ 10 của Cao tổ Đặng Thế Công
TRƯỞNG ĐẶNG TỘC CHÚC SƠN
Đặng Đình Sậu

Nghệ thuật tò he thẫm đẫm tâm hồn dân tộc

Standard

Tò he là một trong số ít những trò chơi dân gian còn lưu truyền đến ngày nay. Những tác phẩm sinh động, đầy màu sắc, mộc mạc, mang đầy nét hoài cổ nhưng tươi vui rạng rỡ được làm nên từ bàn tay khéo léo của những nghệ nhân làng Xuân La (xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, Hà Nội) đã chu du khắp bốn phương…

Tò he có từ bao giờ?

Tò he không những ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân Việt mà còn đi vào thơ ca như những gì đặc sắc nhất của nền văn hoá Bắc Bộ: “Tò he mỗi cái một đồng. Em mua một cái cho chồng em chơi. Chồng em đánh hỏng thì thôi. Em mua cái khác em chơi một mình”.

Không biết tò he có từ bao giờ, nhưng với những câu đồng dao cổ trên thì tò he đã chứng tỏ là một trong những trò chơi dân gian có từ rất lâu còn tồn tại… Theo một số cụ già làm nghề lâu năm trong làng thì tò he đã có lịch sử hơn 300 năm mà nơi được coi là nơi khởi nguồn của nghề nặn tò he là làng Xuân La (xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, Hà Nội).

Nghệ nhân Đặng Văn Tẫn say sưa với tò he – môn nghệ thuật truyền thống

Ban đầu, người ta gọi tò he là đồ chơi chim cò bởi tò he được nặn thành hình con chim, con cò nhưng về sau, sản phẩm thường được gắn với một chiếc kèn ống sậy, đầu kèn có dính kẹo mạch nha có thể phát ra một thứ âm thanh hấp dẫn, khi thổi lên có tiếng kêu ngắt quãng tò… te… tò… te. Ðể nặn ra tò he chỉ cần những nguyên liệu rất đơn giản, đó là những sản phẩm nông nghiệp như bột gạo, phẩm màu, que tre.

Giai đoạn làm bột là giai đoạn công phu nhất. Bột được làm từ gạo nếp trộn với gạo tẻ nghiền nhỏ theo tỷ lệ 50/50. Sau đó đem nhào với nước đến khi bột nhuyễn, quyện dính vào nhau, vê thành cục thì cho vào nồi nước đang sôi để một giờ đồng hồ. Khi bột nổi, chìm rồi lại nổi thì vớt ra, để nguội lúc đó mới nhuộm màu.

Nghệ nhân Đặng Văn Tẫn chia sẻ: “Những sản phẩm tò he sặc sỡ, sinh động, đẹp mắt được làm nên từ hạt gạo quê hương, không chỉ mang đậm hồn dân tộc mà còn có thể được xem như những tác phẩm nghệ thuật. Qua bàn tay tài hoa của người nghệ sỹ chân chất, mộc mạc đã thổi hồn cho bột gạo để những con tò he cất lên tiếng nói của tâm hồn trẻ thơ đầy màu sắc.”

Không những thế, tò he còn là một “món hàng” giúp bà con sau ngày mùa nặng nhọc có thêm nguồn thu nhập cải thiện cuộc sống. Người dân làng Xuân La có câu ca lưu truyền: “Thứ nhất bánh đa, thứ nhì bánh cuốn, thứ ba chim cò” – chim cò ở đây là chỉ nghề nặn tò he. Cái nghề chỉ được xếp thứ 3 ở làng đã giúp cho người dân Xuân La nổi tiếng cả nước, và cũng với cái nghề chim cò ấy, họ đã rong ruổi khắp mọi miền quê.

Khát khao còn mãi tò he

Đến với buổi sinh hoạt nằm trong hoạt động “Góc nghệ thuật chiều thứ 4” với chủ đề “Vui Tết thiếu nhi cùng tò he”, chúng tôi cảm nhận rõ hơn sự lôi cuốn và sức sống của một nghề truyền thống tưởng chừng đã quá xưa cũ.

Trong buổi sinh hoạt, các em không chỉ được ngắm nhìn những con tò he sặc sỡ, mà dưới sự hướng dẫn của nghệ nhân Đặng Văn Tẫn, các em còn được thỏa sức sáng tạo để tự tay tạo nên những tác phẩm nghệ thuật tý hon. Những con vật ngồ ngộ, đáng yêu, những bông hồng với đủ màu sắc xanh đỏ dù chưa rõ hình thù, đường nét còn gồ ghề nhưng nó toát lên sự ngộ nghĩnh, sự trong sáng trẻ thơ… Công việc giúp cho các em rèn luyện năng khiếu mỹ thuật đồng thời cảm nhận rõ hơn giá trị của món đồ chơi dân gian này.

Những “siêu phẩm” tò he hấp dẫn đầy màu sắc

Thế nhưng, một điểm hạn chế việc quảng bá tò he đến với bạn bè quốc tế chính là do chất liệu làm ra chúng. Bột gạo rất dẻo khi nặn nhưng lại không để được lâu, dễ bị mốc và khô, nứt. Mỗi sản phẩm tò he thông thường chỉ để được từ 3 đến 30 ngày (tuỳ thuộc vào tay nghề của thợ nặn, thời tiết và cách bảo quản). Không ít khách du lịch quốc tế khi đến Việt Nam được chiêm ngưỡng những tác phẩm tò he đã đặt vấn đề đưa tò he ra nước ngoài. Thế nhưng khi sản phẩm làm ra, đem đóng hộp mang sang đến nước bạn thì bị khô nứt. Kế hoạch đưa tò he ra thị trường thế giới đành phải tạm dừng.

Bởi vậy, người dân Xuân La bên cạnh mong muốn có được sự giúp đỡ của chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng trong việc định hướng phát triển cho làng nghề thì họ đặc biệt muốn sự giúp đỡ của các nhà khoa học trong việc nghiên cứu, tìm ra chất liệu mới để làm tò he không những đẹp mà còn bền. Có như thế, làng nghề Xuân La mới phát triển hết nội lực của mình và tò he Việt Nam mới có thể bước chân vào “sân chơi” lớn hơn.

Tò he là sản phẩm đồ chơi dân gian độc đáo, vừa mang bản sắc dân tộc, vừa mang tính khoa học. Nó có tầm quan trọng trong cuộc sống, học tập, vui chơi giải trí và rèn luyện tính thẩm mỹ cho trẻ em. Những người tạo ra nó mặc dù chưa đủ khả năng nâng các sản phẩm của mình lên hàng mỹ nghệ, nhưng các sản phẩm ấy đã để lại cho người xem những tình cảm, rung động khó phai. Mong rằng, trong thời đại tên lửa, vũ trụ như hiện nay, tò he không bị lãng quên.

Đức Hiệp

Tò he: Đồ chơi dân gian độc đáo

Standard
(VEN) – Chỉ với vài nắm bột xanh đỏ, chiếc lược nhỏ và nắm que tre, đôi bàn tay tài hoa khéo léo của người thợ nặn Xuân La có thể tái hiện được cả một thế giới diệu kỳ đầy màu sắc. Cũng chính sự mộc mạc, dung dị nhưng không kém phần độc đáo ấy đã tạo nên sức sống bền bỉ của tò he và là kỷ niệm ngọt ngào trong ký ức tuổi thơ của rất nhiều thế hệ người Việt Nam.

 

 

Độc đáo tò he
Bước chân vào làng Xuân La (xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, Hà Nội) vào những ngày cuối năm, dường như những lo toan bộn bề của cuộc sống không thể khuấy động được nét cổ kính trầm mặc nơi đây. Những con ngõ nhỏ dài hun hút gió im ắng đến kỳ lạ nhưng thoảng trong gió mùi thơm của gạo nếp, cơm nếp nồng nàn ấm áp. Đón tôi bằng nụ cười đôn hậu chân chất, ông Nguyễn Văn Giát, một trong những nghệ nhân nặn tò he nổi tiếng của làng Xuân La cho biết: “Mọi người đang chuẩn bị làm bột cho ngày mai đi nặn cuối tuần đấy”. Nghề nặn tò he của Xuân La chúng tôi ngoài 3 tháng mùa xuân là vụ làm ăn chính mọi người tản đi nặn ở khắp các lễ hội, còn ngày thường thì nặn sẵn để cuối tuần mang đi bán ở các địa điểm vui chơi.
Vừa thoăn thoắt nhào bột, ông vừa giảng giải về lịch sử và nghệ thuật nặn tò he cho tôi nghe. Làm tò he có ở Xuân La từ bao giờ thì ngay cả các bậc lão niên trong làng cũng không ai rõ cả, chỉ có thể biết rằng nghề này đã xuất hiện ở Xuân La khoảng 300 năm. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử nghề làm tò he vẫn được người dân Xuân La đời đời tiếp nối. Còn cái tên tò he nghe khá hài hước là do đọc chệch của tiếng tò te do lũ trẻ thổi còi làm bằng mạch nha ở tò he cổ mà thành.
Nghề nặn tò he được chia làm hai giai đoạn, giai đoạn nặn chim cò, đây là giai đoạn đầu tiên của nghề nặn tò he. Ban đầu, người dân Xuân La chủ yếu nặn con chim, con cò và nặn bằng bột sống phủ lên vòng tre sau đó mang hấp chín rồi mới mang đi bán. Giai đoạn hiện nay, tò he được nặn bằng bột chín và không dùng vòng tre mà dùng bằng que tre do đó mọi tư thế của hình nặn phải quy vào thế đứng. Nặn tò he đòi hỏi kỹ thuật cao và độ tỉ mỉ hơn rất nhiều so với nặn chim cò và phải toát lên được thần thái riêng của mỗi loại hình nặn, ví dụ Tôn Ngộ Không phải tinh nghịch, chú gà trống phải rực rỡ, con rồng phải uốn lượn uy phong hay Quan Vân Trường phải vừa uy vừa dũng… có như vậy mới “ăn dỗ được con trẻ”, ông Giát hóm hỉnh nói.
Nguyên liệu dùng để nặn tò he cũng giản dị, chúng được làm từ những sản vật gắn liền với đồng quê. Đó là bột gạo nếp, mà phải là nếp Bắc trộn với bột gạo tẻ với tỷ lệ thích hợp. Bột gạo được trộn với nước sau đó vê thành nắm nhỏ mang hấp, đây là công đoạn khá phức tạp, trộn bột sao cho không được khô mà phải dẻo nhưng không được dính tay, bột hấp chín vừa phải để không bị nhão. Với những người có kinh nghiệm thì làm bột không chỉ quan tâm về chất lượng gạo, mức nước mà còn phải để ‎ý tới thời tiết để cân bằng độ khô, ướt của bột. Một điều rất độc đáo nữa là toàn bộ màu của tò he được làm từ thực vật như: màu vàng được làm từ củ nghệ già, màu xanh từ lá trầu không, màu đen từ quả thần đen, màu đỏ từ quả gấc…vì vậy khi đã chơi chán, trẻ có thể ăn tò he một cách ngon lành.
Và rồi từ vài nắm bột đủ màu, chiếc lược nhỏ, nắm que tre người thợ nặn Xuân La có thể tái hiện lại cả một thế giới đầy màu sắc, đem lại niềm vui, tiếng cười cho bao trẻ nhỏ. Không chỉ có vậy, thông qua những hình nặn về các danh nhân, anh hùng của dân tộc cùng với những câu chuyện kể về lịch sử hào hùng của dân tộc, tò he còn mang trong mình những giá trị giáo dục rất sâu sắc. Không có công thức, khuôn mẫu hay tỷ lệ chung nào cho nghệ thuật nặn tò he, tất cả bắt đầu từ khả năng tư duy, trí tưởng tượng và đôi bàn tay khéo léo của người nặn, nếu 10 người cùng nặn một nhân vật thì cả 10 nhân vật mang những sắc thái khác nhau. Nghề nặn tò he cũng đòi hỏi ở người nặn tính kiên trì, nhẫn nại và đặc biệt là khả năng sáng tạo, có như thế tò he làm ra mới có hồn và đa dạng các sắc thái.
Bền bỉ sức sống
“Cái nghề này cũng nhiều thăng trầm lắm, cô ạ”, ông Giát tiếp lời, “tôi đã làm nghề hơn 60 năm nay và tính đến đời con trai tôi thì gia đình tôi cũng có đến 4 đời đi nặn tò he”. Ở Xuân La, những gia đình có 5-7 đời theo nghề không hiếm nhưng cũng có lúc do thu nhập từ nghề quá thấp không đáp ứng được nhu cầu sống nghề làm tò he của Xuân La đã có lúc tưởng chừng như bị mai một, người dân phải bỏ nghề tìm việc khác kiếm sống. Khó khăn là thế nhưng đối với người dân Xuân La nặn tò he không đơn thuần chỉ là một nghề kiếm sống mà đó là văn hóa, là niềm say mê. Có lẽ vì thế mà trải qua bao thăng trầm, vất vả nghề nặn tò he ở Xuân La vẫn bền bỉ sức sống, vẫn ngày ngày mang lại niềm vui, tiếng cười cho trẻ nhỏ.
Là đại diện cho thế hệ trẻ của làng theo nghề, anh Nguyễn Văn Thành, Chủ tịch Câu lạc bộ Làng nghề tò he chia sẻ: Đối với người dân Xuân La nghề nặn tò he đã ngấm vào máu. Được làm nghề đối với mỗi người dân Xuân La cũng cần thiết như hít thở khí trời vậy. Giải đáp cho sự lo lắng của tôi về khả năng cạnh tranh của tò he với những loại đồ chơi hiện đại đang tràn ngập trên thị trường hiện nay anh Thành khẳng định, sức hút của tò he với trẻ nhỏ không thua kém bất cứ loại đồ chơi hiện đại nào khác bởi màu sắc phong phú, sự uyển chuyển và khả năng đáp ứng nhanh chóng với nhu cầu của trẻ. Đặc biệt, trong xã hội hiện đại ngày nay con người thường tôn trọng và hướng đến những giá trị truyền thống, giá trị nhân văn do đó với một loại đồ chơi dân gian độc đáo như tò he tồn tại và phát triển là không khó.
Về định hướng phát triển lâu dài của làng nghề, anh Thành cũng cho biết, hiện nay câu lạc bộ của làng nghề đã có định hướng gắn phát triển nghề với phát triển du lịch. Trước mắt, câu lạc bộ sẽ nhanh chóng hoàn thành việc sưu tập những di vật cổ và xây dựng khu trưng bày giới thiệu sản phẩm và lịch sử về nghề làm tò he. Sau khi xã Phượng Dực hoàn thành được chương trình xây dựng nông thôn mới, cơ sở hạ tầng đã hoàn thiện lúc đó câu lạc bộ sẽ xúc tiến chương trình phát triển du lịch làng nghề.
Hy vọng với rất nhiều sự cố gắng, nghề nặn tò he của Xuân La sẽ mãi bền bỉ sức sống niềm vui và tiếng cười./.
Việt Nga

Tết tha hương của người ở làng nặn tò he

Standard

Về làng Xuân La (Hà Nội) dịp cận Tết, đập vào mắt là cảnh đàn ông chuẩn bị hòm gỗ, xe đạp, quần áo để đi xa. “Tết là dịp mọi người về quê sum họp, nhưng lại là mùa để người Xuân La xa gia đình, sau đó mới về ăn Tết muộn”, anh Đặng Văn Nhơn, 30 tuổi, nói.

Ở làng Xuân La (xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, Hà Nội), họ Đặng là một chi rất lớn. Những năm 2000, trong làng có cụ Đặng Văn Tố được phong danh hiệu nghệ nhân dân gian. Tuổi thơ những đứa trẻ vùng quê này quá quen thuộc với hình ảnh một ông già râu tóc bạc phơ thỉnh thoảng ngồi trước cổng trường nặn Tôn Ngộ Không, các con giống, hoa, lá… để làm vui lũ học trò. Cụ Tố từng đại diện cho những làng nghề Việt Nam đi biểu diễn nặn tò he ở khắp các hội chợ, lễ hội trong Nam, ngoài Bắc. Thậm chí, ở cái tuổi gần 90 cụ còn được mời đi nước ngoài để nặn tò he. Giờ cụ đã mất.

Những người già, trung tuổi ở làng Xuân La có hòm đồ nghề đã đành, kể cả đám thanh niên đi học đại học có nghề nghiệp đàng hoàng cũng vẫn có hòm đồ nghề nặn tò he.

Được nghỉ Tết, mọi người sẽ chuẩn bị bột, chiếc hòm hình chữ nhật, bên trong có một chiếc lược nhỏ, những que vót khoảng 20 – 30 phân (cm), ba cục bột to đánh với ba màu cơ bản để chuẩn bị làm ăn. Người đi gần thì đến các làng lân cận, xa hơn thì đến Hải Phòng, Nghệ An, Thanh Hóa, thậm chí cả đất Mũi Cà Mau.

Người làng Xuân La có thể nặn bất cứ cái gì, sinh động đến từng chi tiết chỉ bằng mấy động tác vê bột, xoay ngón tay cái và ngón trỏ … Ảnh: Lâm Tuyền.

Bí quyết của người làng Xuân La khi nặn tò he hết sức đơn giản: chỉ một nắm bột nếp được đánh nhuyễn, nấu đủ chín (không được chín quá, nhưng không được sống sượng quá), dẻo mà không dính tay; ba loại màu cơ bản trộn với bột sau đó trộn thành những màu khác nhau rồi véo mỗi cục chỉ hơn đầu ngón tay cái một ít, để riêng ra. Tiếp đó là nặn, rồi lại pha bột, mỗi thứ chỉ véo một tí tẹo đắp vào que tre, dùng ngón cái và ngón trỏ vê bột, lấy cái lược ấn, miết mà thành Tôn Ngộ Không, Thánh Gióng và đủ thứ… Chỉ vậy thôi mà nếu không phải người làng Xuân La, không ăn cơm, uống nước ở đây sẽ không sao học được.

Ông Nguyễn Văn Thuận là người nặn tò he nổi tiếng vào bậc nhất trong làng Xuân La (chỉ sau nghệ nhân Đặng Văn Tố) kể: “Ngày xưa, làng Xuân La nghèo lắm. Đến tết, trẻ con không có quà để chơi. Ông cha ta mới nghĩ ra cách lấy đất sét, nặn những con giống, lấy rơm rạ nung, rồi lấy gạch non quét màu, phơi khô mang cho trẻ con chơi. Bọn trẻ thổi kêu toe toe nên người ta gọi là tò he”. Sau đó, người ta nặn bột nếp thành tò he, trẻ con chơi xong có thể ăn đồ chơi.

Người Xuân La gắn bó với nghề tò he bất kể thời cuộc. Trẻ con cứ 7 – 8 tuổi là nặn tò he giỏi. Họ tha hương khắp nơi.

Ông Thuận trong lần sang Nhật nặn tò he. Ảnh:
Ông Thuận trong lần sang Nhật nặn tò he. Ảnh: Lâm Tuyền.

Năm 2005, ông Nguyễn Văn Thuận đã sang Nhật để nặn tò he trong một triển lãm tại đây. Ông nặn thầy trò Đường Tăng, xe loan, công, phượng, … Nhưng người Nhật nghi ngờ công việc của ông là bắt chước theo một mô típ có sẵn. Họ yêu cầu phiên dịch đề nghị ông nặn hình con Pokemon của họ. Ông Thuận, một người đàn ông thuần nông, suốt ngày đạp xe bạc mặt ngoài đường, hết mùa lễ hội về quê cấy lúa, làm gì có thời gian xem phim hoạt hình mà biết Pokemon. Nhưng ông nhìn tranh và nặn ra một con Pokemon có hồn hơn cả bức ảnh. Những người có mặt đã xúm lại quầy tò he của ông để đợi ông nặn những hình theo mong muốn.

Con trai ông Nguyễn Văn Thuận cũng đang vào tận TPHCM hành nghề, 5 năm rồi mà vẫn chưa về nhà được. “Nặn tò he bạc lắm! Tha hương cả năm, có khi Tết không về nhà được. Nói đây là nghề thì bạc quá! Vì nghề phải nuôi nổi người, làm người ta sung túc. Nhưng nặn tò he thì không thể làm người ta sung túc nổi …”, ông Thuận chia sẻ.

Đã có thời, tò he còn bị cấm vì nhà nước cho rằng nghề đó gây lãng phí. Mỗi ngày một người nặn tò he của làng Xuân La sẽ đổ đi ít nhất 1kg gạo nếp, mà làng có khoảng hơn 200 người đi nặn tò he. Vậy nên chơi tò he bị coi là thú chơi không tiết kiệm.

Anh Nguyễn Văn Việt, nguyên trưởng thôn Xuân La tâm sự: “Thật sự bây giờ thế hệ trẻ ở làng có biết nặn tò he nhưng chúng tôi khuyến khích các cháu đi học nghề khác và học đại học để thay đổi bộ mặt của làng. Chúng tôi vẫn tự hào về nghề truyền trống nhưng giờ nó chỉ có ý nghĩa văn hóa mà thôi”.

Tết đến, xuân về, dạo qua các phố phường của Hà Nội, thấy bạt ngàn đồ chơi, đồ lưu niệm xuất xứ từ Trung Quốc. Không biết đến bao giờ tò he mới hết cảnh lênh đênh? Không biết thế hệ trẻ của làng Xuân La có còn thấy tha hương trong mấy ngày Tết là điều đáng tự hào của quê hương?

Lâm Tuyền

Ngày Giỗ Các Cụ

Standard
                    Giỗ Cụ Tổ      ĐNG QUÝ CÔNG (Tự PHÚC DU) 15/02 Âm lịch
                    Giỗ Cụ Ông    ĐNG VĂN TNG 10/07 Âm lịch
                    Giỗ Cụ Bà      ĐÀO THỊ BẨY 10/01 Âm lịch
                    Giỗ Cụ Ông    ĐNG VĂN TN (C MÁC) 23/02 Âm lịch
                    Giỗ Cụ Bà      VŨ THỊ LÊ 05/10 Âm lịch
                    Giỗ Cụ Ông    ĐNG VĂN T 17/03 Âm lịch
   

DANH SÁCH 199 TẠO SĨ (TIẾN SĨ NGẠCH VÕ) TRIỀU LÊ

Standard

DANH SÁCH 199 TẠO SĨ (TIẾN SĨ NGẠCH VÕ) TRIỀU LÊ

Thời phong kiến, sĩ tử Nho gia đều có chí hướng thi cử chiếm công danh rồi cống hiến cho nước nhà. Ấy là bên văn. 
Còn bên võ, nhà nước cũng tổ chức một số khoa thi, chọn lấy những người có tài, và ban cho phẩm vị. Tạo sĩ khoa thi võ cũng tương đường tiến sĩ (tức ông Nghè) bên văn.

Quyển “Võ cử và các võ tiến sĩ ở nước ta” (tác giả Nguyễn Thúy Nga, Nxb. Thế Giới), trong đó có danh sách các vị đỗ võ khoa cao cấp của Việt Nam thời Lê và thời Nguyễn. 
Xin giới thiệu để mọi người cùng tham khảo.
Bổ xung thông tin như sau:

Tạo sĩ Đặng Đình Truyền, Tạo sĩ Đặng Đình Đạt và Tạo sĩ giao tín hầu Đặng Tiến Giao là con của cụ Đặng Thế Công. (Cụ Tổ Đặng Thế Công là Thủy tổ Họ Đặng Thôn Xuân La, Phượng Dực, Phú Xuyên, Hà Tây). Tuy nhiên chỉ có 2 cụ là Tạo sĩ Đặng Đình Truyền và Tạo sĩ Đặng Đình Đạt là có tên trong “DANH SÁCH 199 TẠO SĨ (TIẾN SĨ NGẠCH VÕ) TRIỀU LÊ  ” còn Cụ Tạo sĩ giao tín hầu Đặng Tiến Giao lại không thấy nhắc đến.

8. Đặng Đình Truyền
Người xã Lương Xá, huyện Chương Đức, nay thuộc xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Đỗ Đồng Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông.

12. Đặng Đình Đạt
Người xã Lương Xá, huyện Chương Đức, nay thuộc xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Đinh Mùi niên hiệu Bảo Thái 8 (1727) đời vua Lê Dụ Tông.

Ngoài ra trong cuốn “DANH SÁCH 199 TẠO SĨ (TIẾN SĨ NGẠCH VÕ) TRIỀU LÊ  ” còn có thêm hai Cụ Người xã Lương Xá, huyện Chương Đức, nay thuộc xã Lam Điền, huyện chương Mỹ, tỉnh Hà Tây (đang tìm hiểu thêm về hai Cụ)

 33. Đặng Đình Trụ.

Người xã Lương Xá, huyện Chương Đức, nay thuộc xã Lam Điền, huyện chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông.

46. Đặng Đình Viện
Người xã Lương Xá, huyện Chương Đức, nay thuộc xã Lam Điền, huyện chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Trước đỗ Toát thủ, sau đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Quý Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 4 (1743) đời vùa Lê Hiển Tông. Trường thứ 3 đỗ hạng ưu.
Làm quan đến Thiêm sai.

Trích dẫn về Cụ Đặng Thế Công:

Cụ Tố quận công Đặng Thế Công có hai phu nhân

Chính thất phu nhân:

Chính thất phu nhân là quận chúa trịnh thị ngọc duyên là con thứ hai của Tây Vương Trịnh Tạc. Sinh hạ đựơc một con trai và một con gái. Con trai là: Điền quận công Đặng Thế Thuyên (hay Xuyên), Điền quận công Đặng Thế Thuyên sinh hạ đựoc 10 con trai là:

1. Tự lộc hầu Đặng Tiến Tự.

2. Chấn trụ hầu Đặng Tiến Kiểm.

3. Khương thọ hầu Đặng Tiến Nhiệm.

4. Đồng tri phủ Đặng Tiến Lưu.

5. Tham nghị Đặng Tiến Viên.

6. Triệu cơ hầu Đặng Tiến Tá.

7. Tạo sĩ giao tín hầu Đặng Tiến Giao.

8. Tạo sĩ Đặng Đình Truyền.

9. Tạo sĩ Đặng Đình Đạt.

10. Thuộc viên Đặng Đình Toại.

Phu nhân thứ thiếp:

Phu nhân sinh hạ đến nay đã trở thành năm chi tôn tộc:

1/Chi cả: Đặng Đình

Trưởng chi Đặng Đình Vị phụng lễ, hiện nay, Đặng Đình Bao kế tự.

2/Chi hai: Đặng Văn

Trưởng chi Đặng Văn Sướng phụng lễ, chi này vô tự, con cháu trong chi không biết lưu lạc phương nào.

3/ Chi ba: Đặng Văn

Trưởng chi Đặng Văn Chỉ phụng lễ, chi này vào Thanh Hoá lập nghiệp đến nay không rõ tin tức.

4/ Chi tư: Đặng Văn

Trưởng chi Đặng Văn Tự phụng lễ, đến nay Đặng Văn Ấn kế tự.

5/ Chi năm: Đặng Văn

Trưởng chi Đặng Văn Nông phụng lễ, đến nay Đặng Văn Nhuận kế tự.

 

Các Tạo sĩ đời Lê
1. Phạm Công Tự
Người xã Cự Khánh, huyện Đông Sơn, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa. Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông. Làm quan trải các chức: Cai cơ, Thiêm Sai, Trấn thủ.

2. Phạm Hữu Tuấn
Người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông. Em Phạm Hữu Nhậm, anh em đỗ cùng khoa; anh Phạm Hữu Tá, ông nội Phạm Hữu Vĩ.

3. Phạm Hữu Nhậm
Người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội. Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông. Anh Phạm Hữu Tá, Phạm Hữu Tuấn, anh em đỗ cùng khoa; ông bác Phạm Hữu Vĩ.

4. Mai Châu Điểm
Người xã Liên Cừ, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông.

5. Văn Đình Dận (1703-1754)
Người xã Lạc Phố, huyện Hương Sơn, nay thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
22 tuổi đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông. Sách Kiến văn tiểu lục ghi: “Sau là danh tướng”. Làm quan đến chức Trấn thủ Tuyên Quang năm Vĩnh Hựu 6 (1740), tước Điều Trung hầu; năm Vĩnh Hựu 5 (1739) thăng Điều quận công. Thọ 51 tuổi. Sau khi mất được truy phong làm phúc thần.
Cha Văn Đình Ức, ông nội Văn Đình Cung.

6. Nguyễn Đức Luận
Người xã Quế Ổ, huyện Quế Dương, nay thuộc xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Đỗ Đồng Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông.

7. Nguyễn Thì Lỵ (1702-1787)
Người xã Đình Vĩ, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội. 23 tuổi đỗ Đồng Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông.  Sách Kiến văn tiểu lục ghi: “Sau là danh tướng”. Làm quan chức Cai cơ. Được về trí sĩ, thọ 85 tuổi, trải việc 4 triều.

8. Đặng Đình Truyền
Người xã Lương Xá, huyện Chương Đức, nay thuộc xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Đỗ Đồng Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông.

9. Hoàng Nghĩa Bá (1696-1743)
Người xã Hoàng Vân, huyện Kim Động, nay thuộc huyện Kim Động, Hưng yên.
29 tuổi đỗ Đồng Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông. Sách Kiến văn tiểu lục ghi: “Sau là danh tướng”. Làm quan chức Thống lĩnh, tước Bích Quận công. Thọ 47 tuổi. Sau khi mất được truy phong làm phúc thần.

10. Bùi Thế Tước
Người xã Thạch Thán, huyện Yên Sơn, nay thuộc xã Thạch Thán, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây. Đỗ Đồng Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông.

11. Trịnh Điền
Họ Tôn thất. Đỗ Đồng Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông.

12. Đặng Đình Đạt
Người xã Lương Xá, huyện Chương Đức, nay thuộc xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Đinh Mùi niên hiệu Bảo Thái 8 (1727) đời vua Lê Dụ Tông.

13. Phạm Hữu Tá
Người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội. Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Đinh Mùi niên hiệu Bảo Thái 8 (1727) đời vua Lê Dụ Tông. Em Phạm Hữu Nhậm, Phạm Hữu Tuấn, ông chú Phạm Hữu Vĩ.

14. Nguyễn Duy Diệu
Người xã Yên Lãng, huyện Yên Lãng, nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc. Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Đinh Mùi niên hiệu Bảo Thái 8 (1727) đời vua Lê Dụ Tông.

15. Nguyễn Phúc Nhuận
Người trang Gia Miêu Ngoại, huyện Tống Sơn, nay thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Đỗ Đồng tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Đinh Mùi niên hiệu Bảo Thái 8 (1727) đời vua Lê Dụ Tông. Làm quan chức kiêm Trấn thủ, tước quận công. Cha Nguyễn Phúc Hán.

16. Vũ Khúc Lâm.
Người xã Vượng Xã, huyện Cẩm Giàng, nay thuộc huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
Đỗ Đồng tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Đinh Mùi niên hiệu Bảo Thái 8 (1727) đời vua Lê Dụ Tông.

17. Võ Tá Đức (1711-?)
Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Biên sinh hợp thức, 21 tuổi đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường. Làm quan chức Đốc trấn, Quyền phủ. Sau khi mất được tặng tước quận công. Cháu họ Võ Tá Tông, chú cháu cùng khoa; chú Võ Tá Thạc.

18. Võ Tá Tông
Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. 21 tuổi đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường. Làm quan chức Cai cơ. Mất tại trận, sau khi mất được tặng tước quận công. Chú Võ Tá Đức, chú cháu cùng khoa; ông họ Võ Tá Thạc.

19. Nguyễn Đức Uông
Người xã Quế Ổ, huyện Quế Dương, nay thuộc xã Chi Lăng, nay là huyện Quế Ổ, tỉnh Bắc Ninh. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường. Làm quân trải các chức Cai cơ, Thống lĩnh. Mất tại trận. Sau khi mất được tặng tước quận công, bao phong phúc thần.

20. Lê  Công Phụ
Người xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, nay là xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường.

21. Tống Đức Hải
Người xã Bùi Xá, huyện Tống Sơn, nay thuộc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường.

22. Hoàng Công Tuấn
Người xã Trung Vũ, huyện Thụy Nguyên, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường.

23. Hoàng Nghĩa Thông
Người xã Hoàng Vân, huyện Kim Động, nay thuộc huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường. Chú Hoàng Nghĩa Đương, chú cháu cùng khoa.24. Nguyễn Đống
Người xã Hạ Bồng, huyện la Sơn, nay thuộc xã Đức Lĩnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường. Tước quận công

25. Hoàng Nghĩa Đương.
Người xã Hoàng Vân, huyện Kim Động, nay thuộc huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường. Cháu Hoàng Nghĩa Thông, chú cháu cùng khoa.

26. Hoàng Công Phái
Người xã Đang Dương Hạ, huyện Bạch Hạc. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường. Làm quan chức cai cơ.

27. Võ Tá Trung
Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Đỗ Tạo ssĩ trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông. Làm quan chức Thiêm sai, Cai cơ. Mất tại trận. Sau khi mất được tặng tước quận công. Anh Võ Tá Thụy, cha Võ Tá Lệ, bác Võ Tá Dao.

28. Phạm Công Thiếp
Người xã Lãng Điền, huyện Thượng Nuyên, nay thuộc huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông.

29. Lê Cảnh.
Người hương Lam Sơn, huyện Thụy Nguyên, nay thủo thị trấn Lam Sơn, xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông.

30. Hoàng Đỉnh Thản
Người xã Lê Xá, huyện Gia Lâm, nay thuộc xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông. Anh Hoàng Đình Huyên, anh em đỗ cùng khoa.

31. Nguyễn Địch Côn
Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông. Làm quan chức Cai cơ, Đốc trấn trấn Kinh Bắc, kèm dạy ở nhà Võ học. Em Nguyễn Địch Tăng, anh em đỗ cùng khoa, ông nội của Nguyễn Địch Chủng, Nguyễn Địch Quỳnh, Nguyễn Địch Trọng.

32. Nguyễn Đình Thạch
Người xã Hương Duệ, huyện Kỳ Hoa, nay thuộc xã Cẩm Duệ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông. Làm quan chức Quyền phủ, tước Tào quận công, quốc sư kiêm quốc lão, Phụng thị ngũ lão. Sau lại được mời ra làm quan. Thọ 78 tuổi. Sau khi mất được bao phong phúc thần. Anh Nguyễn Đình Chử, Nguyễn Đình Quyền.

33. Đặng Đình Trụ.
Người xã Lương Xá, huyện Chương Đức, nay thuộc xã Lam Điền, huyện chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông.

34. Hoàng Đình Huyên
Người xã Lê Xá, huyện Gia Lâm, nay thuộc xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đứ 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông. Em Hoàng Đình Thản. Anh em đỗ cùng khoa.

35. Hoàng Nghĩa Nhương.
Người xã Hoàng Vân, huyện Kim Động, nay thuộc huyện Kim Động, tỉnh Hững Yên.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông. Làm quan Cai cơ. Cha của Hoàng Nghĩa Yến, ông nội của Hoàng Nghĩa Trụ.

36. Phạm Phượng Nhac
Người xã Cự Khánh, huyện Đông Sơn, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông.

37. Nguyễn Địch Tăng
Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. 21 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông. Anh của Nguyễn Địch Côn, ông bác của Nguyễn Địch Chủng, Nguyễn Địch Quỳnh, Nguyễn Địch Trọng.

38. Võ Tá Tín
Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Bính Thìn, niên hiệu Vĩnh Hựu 2 (1736) đời vua Lê Ý Tông.

39. Nguyễn Đình Danh
Người xã Đặng Xá, huyện Lương Tài, nay thuộc xã Trùng Xá, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thìn, niên hiệu Vĩnh Hựu 2 (1736) đời vua Lê Ý Tông. Làm quan Cai cơ. Em Nguyễn Đình Khội, chú Nguyễn Đình Can.

40. Hoàng Đình Tá
Người xã Quế Trạo, huyện Hiệp Hòa, nay thuộc xã Thái Sơn, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Đỗ Đồng tạo sĩ trúng hạng khoa Bính Thìn, niên hiệu Vĩnh Hựu 2 (1736) đời vua Lê Ý Tông.

41. Võ Tá Thụy
Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Biền sinh Hợp thức, 25 tuổi đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Kỷ Mùi niên hiệu Vĩnh Hựu 5 (1739) đời vua Lê Ý Tông. Làm quan chức Cai cơ, Tham lĩnh xứ Nghệ An. Cha Võ Tá Dao, em Võ Tá Trung, chú Võ Tá Lệ.

42. Võ Tá Cơ (1725-?)
Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Biền sinh Hợp thức, 25 tuổi đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Kỷ Mùi niên hiệu Vĩnh Tộ 5 (1739) đời vua Lê Ý Tông. Làm quan chức Cai cơ, Đô đốc, tước Vượng Cơ Hầu. Anh Võ Tá Kiên, Võ Tá Bật, Võ Tá Thì; cha Võ Tá Dự. (sinh năm 1725 thì năm 1739 mới 15 tuổi, vậy có lẽ ông sinh năm 1915 mới đúng)

43. Nguyễn Đình Chử (1715-?)
Người xã Hương Duệ, huyện Kỳ Hoa, nay thuộc xã Cẩm Duệ, huyện Cảm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Biền sinh Hợp thức, 25 tuổi đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Mùi niên hiệu Vĩnh Tộ 5 (1739) đời vua Lê Ý Tông. Em Nguyễn Đình Thạch, Nguyễn Đình Quyền.

44. Phạm Đình Lân
Người xã Hạ Liệt, huyện Đông Sơn, nay thuộc Thanh Hóa. Đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Mùi niên hiệu Vĩnh Tộ 5 (1739) đời vua Lê Ý Tông.

45. Nguyễn Phúc Hán
Người trang Gia Miêu Ngoại, huyện Tống sơn, nay thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Làm quan Cai cơ quản hải đạo. Con Nguyễn Phúc Nhuận.

46. Đặng Đình Viện
Người xã Lương Xá, huyện Chương Đức, nay thuộc xã Lam Điền, huyện chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Trước đỗ Toát thủ, sau đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Quý Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 4 (1743) đời vùa Lê Hiển Tông. Trường thứ 3 đỗ hạng ưu.
Làm quan đến Thiêm sai.
47. Ngô Phúc Hoành.
Người xã Trảo Nha, huyện Thạch Hà, nay thuộc thị trấn Can Lộc, (thị trấn Nghèn), huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Quý Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 4 (1743) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan đến Quyền phủ, Trấn thủcác xứ Sơn Tây, Hải Dương; Kinh lược sứ đạo Thanh Hoa. Tước Hoành Phúc hầu, sau thăng tước quận công. Thọ 97 tuổi. Cha của Ngô Phúc Chủng.
48. Nguyễn Đình Khôi.
Người xã Đặng Xá, huyện Lang Tài, nay thuộc xã Trừng Xá, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Quý Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 4 (1743) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Trấn thủ An Quảng. Anh của Nguyễn Đình Danh; cha của Nguyễn Đình Can.
49. Nguyễn Đình Quyền
Người xã Hương Duệ, huyện Kỳ Hoa, nay thuộc xã Cẩm Duệ, huyện Cảm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 4 (1743) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Quảng cơ Hậu Tiệp, tước Bàn Trung hầu. Em Nguyễn Đình Thạch, anh Nguyễn Đình Chử.
50. Lê Đình Giảng
Người xã An Quảng, huyện Lôi Dương, nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 4 (1743) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan chức Cai cơ.
51. Trịnh Hoành
Họ Tôn thất. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 (1752) đời vua Lê Hiển Tông.
52. Vũ Quốc Cán
Người xã Đôn Thư, huyện Thanh Oai, nay thuộc xã Kim Thư, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 (1752) đời vua Lê Hiển Tông.
53. Lê Thế Quýnh
Người xã Nhân Mục Cựu, huyện Thanh Trì, nay thuộc phương Thượng Đình, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 (1752) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan chức Thiêm sai quản đường biển. Cha Lê Thế Định.
54. Mai Doãn Nhã
Người xã Đông Bình, huyện Gia Định, nay thuộc xã Xuân Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 (1752) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan chức Thiêm sai quản đường biển.
55. Đỗ Thế Dụng
Người xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, nay là xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, TP Hà Nội. Chính quán xã Lai Cách, nay là thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 (1752) đời vua Lê Hiển Tông.56. Hoàng Đình Thể
Người xã Hà Thượng, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 (1752) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Đại tư mã, Trấn thủ các xứ Nghệ An, Hưng Hóa, kiêm dạy ở nhà võ học đạo Quảng Nam – Thuận Hóa, phó tướng quân. Tước quận công. Chết vì việc nước, được phong làm phúc thần. Cha của Hoàng Đình Đức, Hoàng Đình Duệ và Hoàng Đình Khuê. (Hoàng Đình Thể và hai con là Hoàng Định Duệ, Hoàng Đình Khuê tử trận trong cuộc tiến công ra Phú Xuân của quân Tây Sơn năm Bính Ngọ 1786).

57. Phạm Ngô Trác (1724-?)
Người xã Da Cầu, huyện Tống Sơn, nay thuộc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
29 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 (1752) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan chức Thiêm Sai, Trấn Thủ, Đốc chiến, Đốc lĩnh. Chú họ của Phạm Ngô Thạch.

58. Võ Tá Kiên
Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Giáp Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 15 (1754) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan chức Hiệp mưu đạo Quảng Nam – Thuận Hóa, Cai cơ Tả Thắng. Tước Kiện Kim hầu. Chết vì việc nước.
Em Võ Tá Cơ, anh Võ Tá Bật, Võ Tá Thì. Chú Võ Tá Dự.
(ông cùng tử trận với Hoàng Đình Thể trong trận Phú Xuân năm Bính Ngọ 1786)

59. Vũ Đăng Khoa
Người xã Kim Lan, huyện Cẩm Giang, nay thuộc xã Kim Giang, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. 28 tuổi đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Giáp Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 15 (1754) đời vua Lê Hiển Tông. Trường thứ 3 đỗ hạng ưu.

60. Trịnh Tự Đĩnh.
Tự Quý Quyền 貴 權
Người xã Phù Lỗ Đông, huyện Kim Hoa, nay thuộc xã Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Giáp Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 15 (1754) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan chức Cai đội, Thái Bảo, Trấn thủ Hải Dương. Cha của Trịnh Tự Hiển, Trịnh Tự Thuần và Trịnh Tự Thức.

61. Đàm Đắc Chẩm
Người xã Tương Trúc, huyện Thanh Trì, nay thuộc xã ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Giáp Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 15 (1754) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Đề lĩnh.

62. Nguyễn Đình Triêm
Người xã Thiết Thượng, huyện Yên Dũng, nay thuộc tỉnh Bắc Giang. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Giáp Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 15 (1754) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Thủ hiệu.

63. Trịnh Châu
Họ Tôn thất. Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Giáp Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 15 (1754) đời vua Lê Hiển Tông.

64. Biện Vũ Duệ.
Người xã Diên Lữ, huyện Nam Đường, nay thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.

65. Võ Tá Thạc.
Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông. Cháu Võ Tá Tổng.

66. Lê Bùi Chiểu
Người xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, nay thuộc xã Đặng Xá, huyện Giam Lâm, TP Hà Nội. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.

66. Lê Bùi Chiểu
Người xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, nay thuộc xã Đặng Xá, huyện Giam Lâm, TP Hà Nội. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.67. Phạm Như Toại
Người xã Phúc Dương, huyện Hương Sơn, nay thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Trấn thủ Tuyên Quang.

68. Nguyễn Địch Bàn
Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Trấn thủ các xứ Hải Dương, An Quảng và Sơn Tây, chỉ huy đồng tri. Tước Điện Lĩnh hầu. Cha của Nguyễn Địch Bàn, anh họ Nguyễn Địch Liên, Nguyễn Địch Vượng; ông họ nguyễn Địch Khuê.

69. Trương Tuân
Người xã Như Kinh, huyện Gia Lâm, nay thuộc thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. 22 tuổi đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan Trấn thủ Tuyên Quang. Cháu Trương Thuyên. Chú cháu đỗ cùng khoa.

70. Nguyễn Hữu Diễn
Người phường Đông Tác, huyện Thọ Xương, any thuộc quân Hoàn Kiếm, TP Hà Nội.
Quê trang Gia Miêu Ngoại, huyện Tống Sơn, nay thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.

71. Lê Đỗ Tích
Người xã Hiến Phạm, huyện Văn Giang, nay thuộc huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
Biền sinh hợp thức, 50 tuổi đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.

72. Nguyễn Đình Khanh
Người xã Hương Duệ, huyện Kỳ Hoa, nay thuộc xã Cẩm Duệ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757), đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan chức Cai cơ.

73. Trịnh Tông
Họ Tôn thất.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu, niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757), đời vua Lên Hiển Tông.

74. Hoàng Sĩ Bá
Người xã Hà Thượng, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu, niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757), đời vua Lên Hiển Tông.

75. Đinh Kỳ Trân
Người xã Phượng Dực, huyện Thượng Phúc, nay thuộc xã Phương Dục, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.

76. Lê Trọng Hải
Người xã Hoằng Liệt, huyện Thanh Trì, nay thuộc xã Hoàng Liệt, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan quản đường biển.

77. Trương Thuyên
Người xã Như Kinh, huyện Gia Lâm, nay thuộc thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan chức Cai cơ.
Chú Trương Tuân. Chú cháu đỗ cùng khoa.
(Hai chú cháu họ Trương này thấy có hai cách ghi họ Trương khác nhau, nhưng có lẽ ghi theo họ Trương của Trương Thuyên (77) là đúng, nghi là sách có sai sót).

78. Nguyễn Hữu Nhậm
Người xã Hạ Bồng, huyện La Sơn, nay thuộc xã Đức Lĩnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.

79. Trần Danh Nhạc
Người xã Thiêm Lộc, huyện Ý Yên, nay thuộc huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông.

80. Văn Đình Lượng
Người xã Lạc Phố, huyện Hương Sơn, nay thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Canh Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan chức Cai cơ.
Con Văn Đình Dận, chú Văn Đình Cung.

81. Hoàng Nghĩa Yến
Người xã Hoàng Vân, huyện Kim Động, nay thuộc huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.
Con của Hoàng Nghĩa Nhượng, cha của Hoàng Nghĩa Trụ.

82. Lương Như Cán
Người xã Cốc Lương, huyện Tiên Phúc, nay thuộc huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội.
21 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.

83. Bùi Duy Thì
Người xã ỷ Bích, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.
Cha Bùi Danh Lân.

84. Trịnh Liêm
Họ Tôn thất, hàng thứ 2 thân với chúa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.

85. Trịnh Chung
Họ Tôn thất
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan chức Thủ hiệu.
Em của Trịnh Thuyên, anh của Trịnh Tư, Trịnh Tiêm.

86. Trịnh Chân Trí
Người xã Thận Vị, huyện Thượng Nguyên, nay thuộc huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.

87. Lê Tự
Người hương Lam Sơn, huyện Thụy Nguyên, nay thuộc thị trấn Lam Sơn, xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ.

88. Văn Đình Cung
Người xã Lạc Phố, huyện Hương Sơn, nay thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Tạo sĩ ưu trúng hạng kho Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan chức Cai cơ.
Lấy quận chúa em gái chúa Trịnh Sâm. Sau bị khép vào tội ngầm thông mưu phản nghịch, bị giam vào ngục, chúa Trịnh miễn cho khỏi tội chết.
Cháu nội Văn Đình Dận, con Quản quận công Văn Đình Ức, cháu họ Văn Đình Lượng.

89. Trịnh Thự
Họ Tôn thất.
Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) đời vua Lê Hiển Tông.90. Phạm Đình Phan
Người làng Kim Đôi, huyện Võ Giàng, nay thuộc xã Kim Chân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) đời vua Lê Hiển Tông.

91. Võ Tá Bật
Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan thủ hiệu thiêm sai phủ liêu, Trấn thủ trấn Sơn Nam Hạ.
Em Võ Tá Cơ, Võ Tá Kiên; anh Võ Tá Thì; chú Võ Tá Dự.

92. Lê Thế Trâm (1743-?)
Người làng Nhân Mục Cựu, huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội.
Biền sinh hợp thức, 21 tuổi thi một lần đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) thời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan chức Thiêm sai, Cai cơ.

93. Đỗ Thế Dận
Người xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, nay thuộc xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, TP Hà Nội.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) thời vua Lê Hiển Tông.
Năm Cảnh Hưng 35 (1774) làm quan Trấn thủ các trấn Thanh Hoa, Sơn Nam; năm Cảnh Hưng 38 (1777) lĩnh Trấn thủ sơn Tây, Kinh Bắc. Tước Trương Trung hầu. Sau bị cách chức vì không đương nổi việc.

94. Nguyễn Danh Đát
Người xã Phú Hoa, huyện Tiên Phong, nay thuộc xã phú Phương, huyện Ba Vị, tỉnh Hà Tây.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) thời vua Lê Hiển Tông.

95. Vũ Tất Nhậm (1735-?)
Người xã Mỹ Thự, huyện Đường An, nay thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
29 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) thời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ.

96. Nguyễn Địch Vượng
Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) thời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan quản hải đạo.
Cha của Nguyễn Địch Khuê; em họ Nguyễn Địch Liên, Nguyễn Địch Bàn; chú họ Nguyễn Địch Bân.

97. Trịnh Thuyên (1724-?)
Họ Tốn thất
37 tuổi đoõ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) thời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ. Chết vì việc nước.
Anh của Trịnh Chung, Trịnh Tư và Trịnh Tiêm.

98. Nguyễn Trọng Mại (1736-?)
Người xã Quế Ổ, huyện Quế Dương, nay thuộc xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
28 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) thời vua Lê Hiển Tông.

99. Hoàng Đình Bảo (1743-1782)
Trước tên là Hoàng Đăng Bảo. Sau đổi tên là Tố Lý.
Người xã Phụng Công, huyện Yên Dũng, nay thuộc huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
Trước đã đỗ Hương tiến khoa Ất Dậu niên hiệu Cảnh Hưng 26 (1765), 24 tuổi lại đỗ Tạo sĩ ưu phân hạng khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 27 (1766) đời vua Lê Hiển Tông. Trường thứ 3 đỗ hạng ưu.
Có tài cả văn lẫn võ, được Ân Vương Trịnh Doanh gả con gái, làm Phò mã.
Làm quan quảnh binh, Trấn thủ các xứ: Thuận Hóa, Sơn Nam; sau làm Tham tụng. Tước Điển Thọ hầu, sau thăng Huy quận công. Bị loạn quân giết năm Canh Hưng 43 (1782).
Cháu họ Hoàng Ngũ Phúc, được Hoàng Ngũ Phúc nuôi làm con.

100. Phạm Hữu Vĩ (1739-?)
Người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Biền sinh hợp thức, 28 tuổi đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 27 (1766) đời vua lê Hiển Tông.
Làm quan Cai Cơ.
Cháu nội Phạm Hữu tuấn; cháu họ Phạm Hữu Nhậm, Phạm Hữu Tá.

101. Võ Tá Thì (1745-?)
Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Biền sinh hợp thức, 22 tuổi thi một lần đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 27 (1766) đời vua lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu thiêm sai phủ liêu.
Em Võ Tá Cơ, Võ Tá Kiên và Võ Tá Bật; chú Võ Tá Dự.

102. Lê Thì Hoan (1746-?)
Người xã Phú Hào, huyện Lôi Dương, nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Biền sinh hợp thức, 21 tuổi đỗ Đồng Tạo sĩ tưu trúng hạng khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 27 (1766) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ.

103. Trần Danh Siêu (1743-?)
Người làng Vạn Phần, huyện Đông Thành, nay là xã Điền Vạn, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Biền sinh hợp thức, 24 tuổi đỗ Đồng Tạo sĩ tưu trúng hạng khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 27 (1766) đời vua Lê Hiển Tông.
Anh Trần Danh Thự.

104. Nguyễn Địch Liên
Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
Đỗ Đồng Tạo sĩ tưu trúng hạng khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 27 (1766) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quân Thủ hiệu. Năm Bính Ngọ chết vì việc nước.
Em họ Nguyễn Địch Bàn, anh họ Nguyễn Địch Vượng, chú họ Nguyễn Địch Bân, bác họ Nguyên Địch Khuê.

105. Trịnh Chử (1743-?)
Họ Tôn thất.
24 tuổi đỗ Đồng Tạo sĩ tưu trúng hạng khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 27 (1766) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.
Anh Trịnh Bích, Trình Thì.

106. Nguyễn Tông Hải
Người xã Yên Khê, huyện Gia Lâm, nay thuộc xã Yên Trường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Trước thi hương đỗ Hương cống, sau chuyển sang ngạch võ. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.

107. Nguyễn Đình Khoan
Người xã Thượng Trì, huyện Văn Giang, nay thuộc huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
Trước thi hương đỗ Hương cống, sau chuyển sang ngạch võ. Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan đến chức Cai cơ.

108. Nguyễn Đức Trung
Người xã Quế Ổ, huyện Quế Dương, nay thuộc xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Nguyễn Đức Hiệp, chú Nguyễn Trọng Mại.

109. Nguyễn Đình Tuân
Người xã yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.
Em Nguyễn Đình Xuyến, anh Nguyễn Đình Bát.

110. Nguyễn Mậu Phác
Người xã Hà Dương, huyện Vĩnh Lại, nay thuộc huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ, chết vì việc nước.

111. Dương Đình Hài
Người xã Phụng Công, huyện Yên Dũng, nay thuộc huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.112. Nguyễn Đình Hòe
Người xã Câu Tử, huyện Duy Tiên, any thuộc huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.

113. Phạm Huy Dật
Người xã Cao Mỗ, huyện Thần Khê, nay thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ sưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu

114. Nguyễn Hữu Diệm
Người xã Mỹ Dụ, huyện Hưng Nguyên, nay thuộc huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.

115. Nguyễn Danh Thái
Người xã Phú Hoa, huyện Tiên Phong, nay thuộc xã Phú Phương, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.

116. Nguyễn Gia Bàn (1745-?)
Người xã Hà Dương, huyện Vĩnh Lại, nay thuộc huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
25 tuổi đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời vua Lê Hiển Tông.

117. Hoàng Nghĩa Nhị
Người xã Hoàng Vân, huyện Kim Động, nay thuộc huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Trường thứ 3 đỗ hạng ưu.
Làm quan Trấn thủ đạo An Quảng.
Cháu Hoàng Nghĩa Bá.

118. Võ Tá Lệ
Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Con Võ Tá Trung, cháu gọi Võ Tá Thụy là chú, anh họ Võ Tá Dao.

119. Võ Tá Dao (1746-?)
Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
27 tuổi đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Trấn thủ Nghệ An.
Con Võ Tá Thụy, cháu gọi Võ Tá Trung là bác, em họ Võ Tá Lệ.

120. Võ Tá Dự (1748-?)
Người xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Biền sinh hợp thức, 25 tuổi đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông. Trường thứ 3 đỗ hạng ưu.
Làm quan Cai cơ, Thủ hiệu, Thiêm sai phủ liêu.
Sau đổi sang họ Dương (Dương Vũ Dự).
Con Võ Tá Cơ, cháu họ Võ Tá Kiên, Võ Tá Bật, Võ Tá Thì.

131. Trịnh Tiêm
Họ Tôn thất.
Biền sinh hơp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.
Em Trịnh Thuyên, Trịnh Chung, Trịnh Tư, anh em đỗ cùng khoa.

123. Nguyễn Hữu Lý
Người xã Mậu Lâm, huyện Nga Sơn, nay thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ.

124. Trịnh Nhuận (1748-?)
Họ Tôn thất.
Biền sinh hợp thức, 25 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
(Các tài liệu chữ Hán đều ghi là chữ nhuận 潤 có bộ thủy, nhưng tác giả Nguyễn Thúy Nga cho rằng người họ chúa Trịnh đều có bộ mộc nên đã đổi lại thành chữ nhuận có bộ mộc, xem hình kèm theo).

125. Ngô Hữu Khoát (1748-?)
Người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
25 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.

126. Trần Danh Chấn
Không rõ quê quán.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.

127. Trịnh Liêm
Họ Tôn thất.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.

128. Trần Danh Thự.
Người xã Vạn Phần, huyện Đông Thành, nay là xã Điền Vạn, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Trần Danh Siêu.

129. Phan Đình Cung
Người xã Nam Ngạn, huyện La Sơn, nay thuộc Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.

130. Hoàng Đình Đức (1750-?)
Người xã Hà Thượng, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Biền sinh hợp thức, 23 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Con của Hoàng Đình Thể; anh Hoàng Đình Duệ, Hoàng Đình Khuê.
Làm quan đến Trấn thủ xứ Hưng Hóa.

131. Nguyễn Đình Trụ
Người xã Linh Đường, huyện Thanh Trì, nay thuộc xã Hoàng Liệt, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ.

132. Trịnh Quyền
Họ Tôn thất.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.

133. Trịnh Thì
Họ Tôn thất
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Trịnh Chử, Trịnh Bích.134. Nguyễn Ngô Khanh
Người xã Văn Trinh, huyện Ngọc Sơn, nay thuộc huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.

135. Nguyễn Đức Hiệp
Người xã Quế Ổ, huyện Quế Dương, nay thuọc xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Anh Nguyễn Đức Trung, chú Nguyễn Đức Mai.

136. Trịnh Bích
Họ Tôn thất.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Trịnh Chử, anh Trịnh Thì.

137. Trịnh Bàn
Họ Tôn thất.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.

138. Lê Trọng Phan (1748-?)
Người xã Bùi Xá, huyện La Sơn, nay thuộc xã Bùi Xã, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
Biền sinh hợp thức, 25 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ.

139. Nguyễn Đình Xuyến (1743-?)
Người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Biền sinh hợp thức, 30 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu, Tham đốc.
Anh Nguyễn Đình Trân, Nguyễn Đình Bát.

140. Nguyễn Gia Quan
Người xã Phương Liệt, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội.
Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan quyền phủ Hiển lĩnh kiêm Trấn thủ Thái Nguyên.

141. Bùi Thế Toại.
Người xã Tiên Lý, huyện Đông Thành, nay thuộc tỉnh Nghệ An.
Đỗ Tạo sĩ trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông. Trường thứ 3 đỗ hạng ưu.
Làm quan Hiến lĩnh Trấn thủ Nghệ An.
142. Lê Thế Siêu
Người xã Nhân Mục Cựu, huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội.
Biền sinh hợp thức, đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thiêm sai.

143. Lê Thế Định
Người xã Nhân Mục Cựu, huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội.
25 tuổi đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thiêm sai.
Con Lê Thế Quýnh.

144. Nguyễn Huy Chiểu
Người xã Nhân Môn, , huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội.
Đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.

145. Vũ Đình Khanh
Người xã Tiên Cầu, huyện Kim Động, nay thuộc xã Hiệp Cường, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
(Sách Đại Việt sử ký tục biên ghi: “Tạo sĩ mới đỗ khoa Ất Mùi Vũ Đình Khanh trong ngày phúc duyệt có mang sách vào trường, bị bắt, phải xóa tên).

146. Ngô Trọng Định
Người xã Phương Quế, huyện Thượng Phúc, nay thuộc xã Liên Phương, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.

147. Nguyễn Thế Dao
Người xã Nghi Khê, huyện Tứ Kỳ, nay thuộc xã Tân Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.

148. Nguyễn Đăng Nhương
Người xã Bái Ninh, huyện Hoằng Hóa, nay thuộc thuộc huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.

149. Đoàn Bá Sướng
Người xã Đồng Quan, huyện Thượng Phúc, nay thuọc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây.
Đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Anh Đoàn Bá Trọng

150. Nguyễn Quốc Quý
Người xã Lộng Đình, huyện Văn Giang, nay thuộc huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.

151. Nguyễn Địch Chủng (1746-?)
Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
Biền sinh hợp thức, 29 thuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.
Cháu nội Nguyễn Địch Côn; cháu gọi Nguyễn Địch Tăng là ông bác; em Nguyễn Địch Trọng, Nguyễn Địch Quỳnh.

152. Nguyễn Danh Triêm
Người xã Phú Hoa, huyện Tiên Phong, nay thuộc xã Phù Phương, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan thủ hiệu. Chết vì việc nước, được phong Tráng liệt đại vương.
(Có lẽ ông chính là Chiêm Vũ Hầu chết vì loạn kiêu binh năm 1784. Xin tham khảo nguồn sau: http://dulichvietnam.asia/vn/?product.item.2856)153. Lê Đình Cẩn (1726-?)
Người xã Nhân Mục Cựu, huyên Thanh Trì, nay thuộc phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội.
Biền sinh hợp thức, 51 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.

154. Trịnh Đĩnh
Họ Tôn thất.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Chết vì việc nước năm Bính Ngọ.

155. Nguyễn Địch Bân
Ngời xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Hiển lĩnh, thiêm sai, Trấn thủ Hải Dương. Chết vì việc nước.
Con Nguyễn Địch Bân; cháu họ Nguyễn Địch Liêm, Nguyễn Địch Vượng; anh họ Nguyễn Địch Khuê.156. Đỗ Đình Diệm
Người xã Tiểu Lan, huyện Đông Yên, nay thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Chết vì việc nước.
Anh Đỗ Đình Liễn.

157. Nguyễn Danh Lan
Người xã Ỷ Bích, huyện Thuần Lộc, nay tuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Chết vì việc nước.

158. Trần Vũ Định
Người xã Thiện Phiến, huyện Tiên Lữ, nay thuộc xã Thiện Phiến, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.
Đỗ Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.

159. Tạ Đăng Liêm
Người xã Đại Phùng, huyện Đan Phượng, nay thuộc thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây.
Đỗ Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông.
Cố nội là Tạ Đăng Vọng, ông nội là Tạ Đăng Huân, cha là Tạ Đăng Đạo đều đỗ Tiến sĩ ngạch văn.

160. Trịnh Tự Hiển
Người xã Phù Lỗ, huyện Kim Hoa, nay thuộc xã Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội.
Đỗ Tạo sĩ quản thủ hạng thịnh khoa Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 40 (1779) đời vua Lê Hiển Tông.
Con Trịnh Tự Đĩnh, anh Trịnh Tự Thuần, Trịnh Tự Thức.

161. Hoàng Nghĩa Trụ.
Người xã Hoàng Vân, huyện Kim Động, nay thuộc huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Biền sinh hợp thức, thi một lần đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng thịnh khoa Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 40 (1779) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ Hiệu.
Con Hoàng Nghĩa Yến, cháu nội Hoàng Nghĩa Nhượng.

162. Trịnh Thiều
Họ Tôn thất.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng thịnh khoa Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 40 (1779) đời vua Lê Hiển Tông.

163. Vũ Tá Ngạnh
Người xã Hoa Đường, huyện Đường An, nay thuộc xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng thịnh khoa Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 40 (1779) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Cai cơ.

164. Nguyễn Đình Cẩn
Người xã Hương Duệ, huyện Kỳ Hoa, nay thuộc xã Cẩm Duệ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng thịnh khoa Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 40 (1779) đời vua Lê Hiển Tông.
Chết vì việc nước.

165. Võ Tá Siêu.
Ngưỡi xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Biền sinh hợp thức, 21 tuổi thi một lần đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781) đời vua Lê Hiển Tông.
Làmquan Thủ hiệu.

166. Võ Tá Diệm
Ngưỡi xã Hà Hoàng, huyện Thạch Hà, nay thuộc xã Thạch Hạ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781) đời vua Lê Hiển Tông.

167. Hoàng Đình Duệ
Người xã Hà Thượng, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781) đời vua Lê Hiển Tông.
Chết vì việc nước.
Con Hoàng Đình Thể, em Hoàng Đình Đức, anh Hoàng Đình Khuê, anh em đỗ cùng khoa.

168. Hoàng Đình Khuê
Người xã Hà Thượng, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781) đời vua Lê Hiển Tông.
Chết vì việc nước.
Con Hoàng Đình Thể, em Hoàng Đình Đức, em Hoàng Đình Duệ, anh em đỗ cùng khoa.

169. Khúc Đăng Liêm
Người xã Lãng Khuê huyện Ngự Thiên, nay thuộc huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.

170. Nguyễn Gia Huyên
Người xã Hà Dương, huyện Vĩnh Lại, nay thuộc huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781) đời vua Lê Hiển Tông.

171. Đoàn Bá Trọng
Người xã Đồng Quan, huyện Thượng Phúc, nay thuộc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Đoàn Bá Sưởng.

172. Ngô Phúc Chúng
Người xã Trảo Nha, huyện Thạch Hà, nay thuộc thị trấn Can Lộc (thị trấn Nghèn), huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Tạo sĩ thứ thủ hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông. Trường thứ 3 đỗ hạng ưu.
Con Ngô Phúc Hoành.

173. Hoàng Phùng Gia
Người xã Vân Cốc, huyện Bạch Hạc.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Đô đốc triều Tây Sơn.
Tục gọi là Tạo Ba Bầu. Con thứ 3 Dục quận công.

174. Nguyễn Đăng Nhượng.
Người xã Bái Ninh, huyện Hoằng Hóa, nay thuộc huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Nguyễn Đăng Nhưỡng, chú Nguyễn Đăng Đệ.

175. Bùi Đăng Huân
Người xã Đoàn Đào, huyện Phù Dung, nay thuộc huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

176. Trịnh Giai
Họ Tôn thất
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

177. Nguyễn Đăng Đệ
Người xã Bái Ninh, huyện Hoằng Hóa, nay thuộc huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Cháu họ Nguyễn Đăng Nhưỡng, Nguyễn Đăng Nhượng.178. Dương Vị
Người xã Long Phúc, huyện Thạch Hà, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Em họ Dương Dận, Dương Thiều.

179. Nguyễn Đình Bát
Người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hn.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Nguyễn Đình Xuyến, Nguyễn Đình Tuân.

180. Ngô Trọng Thọ
Người xã Mỹ Thự, huyện Đường An, nay thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

181. Phạm Ngô Thạch (1765-?)
Người xã Da Cầu, huyện Tống Sơn, nay thuộc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
21 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Cháu họ Phạm Ngô Trác.

182. Lê Xuân Trác
Người xã Dương Xá, huyện Đông Sơn, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

183. Nguyễn Trọng Nhẫn
Người xã Mỹ Điền, huyện Yên Dũng, nay thuộc huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

184. Đỗ Đình Liễn
Người xã Tiển Lan, huyện Đông Yên, nay thuộc huyện Khoái Châu, Hưng Yên.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Đỗ Đình Diệm.

185. Nguyễn Địch Khuê
Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
Biền sinh hơp thức, đỗ Đồng Tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Con Nguyễ Địch Vương, cháu họ Nguyễn Địch Bàn, Nguyễn Địch Liên em học Nguyễn Địch Bân.

186. Nguyễn Đình Can
Người xã Đặng Xá, huyện Lang Tài, nay thuộc xã Trung Xá, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Con Nguyễn Đình Khôi, cháu họ Nguyễn Đình Danh.

187. Dương Dận
Người xã Long Phúc, huyện Thạch Hà, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Anh Dương Thiều, anh em cùng khoa; anh họ Dương Vị.

188. Dương Thiều
Người xã Long Phúc, huyện Thạch Hà, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Em Dương Dận, anh em cùng khoa; anh họ Dương Vị.

189. Lê Hữu Đạm
Người xã An Tĩnh, huyện Quảng Xương, nay thuộc huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Thủ hiệu.

190. Ngô Phúc Thưởng
Người xã Trảo Nha, huyện Thạch Hà, nay thuộc thị trấn Can Lộc (thị trấn Nghèn), huyên Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

191. Nguyễn Thọ Doãn
Người xã Phù Ninh, huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

192. Phạm Trọng Trạc
Người xã An Luật, huyện Gia Lộc, nay thuộc huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

193. Hoàng Đình Thực (1765-?)
Người xã Linh Đường, huyện Thanh Trì, nay thuộc xã Hoàng Liệt, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội.

21 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Làm quan Tả tiệp.194. Trịnh Tự Thuần (1765-?)
Người xã Phù Lỗ, huyện Kim Hoa, nay thuộc xã Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội.
21 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Con Nguyễn (?) Tự Đĩnh, em Nguyễn Tự Hiển, anh Nguyễn Tự Thức, anh em đỗ cùng khoa.

195. Trịnh Tự Thức (1769-?)
Người xã Phù Lỗ, huyện Kim Hoa, nay thuộc xã Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội.
17 tuổi thi một lần đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Con Trịnh Tự Đĩnh; em Trịnh Tự Hiển, Trịnh Tự Thuần.

196. Nguyễn Hữu Ích
Người xã Dương Xá, huyện Đông Sơn, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

197. Nguyễn Đức Bồi
Người trang Gia Miêu Ngoại, huyện Tống Sơ, nay thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
Biền sinh hợp thức, đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.

198. Nguyễn Địch Quỳnh (1765-?)
Người xã Vụ Cầu, huyện Thanh Ba, nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
21 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.
Cháu nội Nguyễn Địch Côn; cháu gọi Nguyễn Địch Tăng là ông bác; em của Nguyễn Địch Chủng, anh của Nguyễn Địch Trọng.

199. Trương Đình Vệ
Người xã Vương Xá, huyện Cẩm Giàng, nay thuộc huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785) đời vua Lê Hiển Tông.